Chương 1: Cơ sở lý luận về đào tạo, bồi dƣỡng công chức cấp xã theo chức danh Chương 2: Thực trạng đào tạo, bồi dƣỡng công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dƣỡng công chức cấp xã theo chức danh trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨC VÀ ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ THEO CHỨC DANH 1. Công chức và công chức cấp xã 1. Khái niệm công chức, công chức cấp xã Thuật ngữ công chức xuất hiện lần đầu tiên ở nƣớc Anh năm 1859 song song với sự tồn tại và phát triển của chế độ công vụ. Tuy nhiên cách hiểu về thuật ngữ này giữa các quốc gia có sự khác nhau.
Ở các nƣớc nhƣ Anh, Thái Lan, Singapore… công chức đƣợc hiểu là những ngƣời làm công tác chuyên môn nghiệp vụ trong bộ máy hành chính của các bộ thuộc Chính phủ. Nhƣ vậy, những đối tƣợng khác tuy làm việc ở Bộ nhƣng không trực tiếp làm công tác chuyên môn nghiệp vụ theo chức năng quản lý của Bộ thì không phải là công chức và cũng theo quan niệm về công chức nhƣ vậy thì những ngƣời làm việc trong bộ máy của chính quyền địa phƣơng cũng không phải là công chức. Các nƣớc nhƣ Nga, Trung Quốc, Ba Lan, Hungari… lại có cách hiểu về công chức không chỉ là những ngƣời thực hiện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ quản lý trong bộ máy hành chính của các bộ (trung ƣơng) mà còn bao gồm cả những ngƣời làm công tác chuyên môn nghiệp vụ quản lý trong bộ máy hành chính thuộc chính quyền của địa phƣơng. Khác với những quan niệm đã nêu trên, một số nƣớc nhƣ Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha…xác định phạm vi công chức bao gồm cả những ngƣời thực thi công vụ tại các tổ chức cung ứng dịch vụ công hoặc cả ngành lập pháp, tƣ pháp.
Ở Việt Nam khái niệm công chức đã đƣợc quy định từ rất sớm từ Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa về Quy chế công chức. Công chức đƣợc hiểu là “Những công dân Việt Nam đƣợc chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong cơ quan Chính phủ ở trong và ngoài nƣớc”. Theo Sắc lệnh này thì những ngƣời 9 giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong cơ quan Chính phủ thì đƣợc gọi là công chức, còn những ngƣời làm việc ở các cơ quan khác thì không. Tuy nhiên, do hoàn cảnh kháng chiến những năm sau đó, tuy không có văn bản nào bãi bỏ Sắc lệnh 76/SL nhƣng trên thực tế các quy chế đó về công chức không đƣợc áp dụng.
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nƣớc 30/4/1975, nƣớc ta thực hiện chế độ cán bộ trên phạm vi cả nƣớc, theo đó tất cả những ngƣời làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nƣớc, nông trƣờng, lâm trƣờng và lực lƣợng vũ trang đều đƣợc gọi chung bằng một cụm từ “cán bộ, công nhân viên nhà nƣớc”. Đến năm 1998, khi Pháp lệnh Cán bộ, công chức đƣợc ban hành, những ngƣời làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nƣớc, đoàn thể đƣợc gọi chung trong một cụm từ là “ cán bộ, công chức”. Lúc này việc xác định ai là công chức, ai là cán bộ vẫn chƣa đƣợc nêu rõ và vẫn bao gồm cả khu vực hành chính, khu vực sự nghiệp và các cơ quan của Đảng, đoàn thể. Pháp lệnh Cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 đã tách riêng đối tƣợng công chức, viên chức và quy định về chế độ công chức dự bị.
Công chức là ngƣời làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nƣớc; viên chức không đảm nhận những công việc chuyên môn và làm việc trong các đơn vị sự nghiệp. Cho đến năm 2008, thuật ngữ công chức đƣợc quy định chính thức trong Luật Cán bộ công chức số 22/2008/QH12, thông qua ngày 13/11/2008; tại khoản 2 điều 4 Luật Cán bộ công chức quy định công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị 10 - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đám từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Tại điều 2 Nghị định số 06/2010/NĐ-CP căn cứ xác định công chức công chức là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc hoặc đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này. Theo khoản 3 điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định công chức cấp xã là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân xã, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc.
Vai trò cúa công chức cấp xã - Là cầu nối giữa Đảng, Nhà nƣớc với nhân dân Cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trƣơng đƣờng lối của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc trong thực tế. Mọi hoạt động của chính quyền cấp xã đều do cán bộ, công chức cấp xã thực hiện. Do đó, cán bộ, công chức cấp xã là một bộ phận không thể thiếu trong đội ngũ cán bộ, công chức. Công chức cấp xã luôn phát huy những vai trò của mình trong đời sống chính trị - xã hội của đất nƣớc, của địa phƣơng.
Đội ngũ công chức cấp xã có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành nhiệm vụ công vụ. Công chức cấp xã trực tiếp gắn bó với quần chúng; tạo dựng phong trào cách mạng quần chúng. Cơ sở xã, phƣờng, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và đội ngũ công chức cấp xã nói riêng. Công chức cấp xã góp phần quyết định sự thành bại của đƣờng lối và nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà 11 nƣớc.
Chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nƣớc có đƣợc thực thi tốt hay không, có hiệu quả hay không hiệu quả một phần quyết định ở cấp xã. Cán bộ, công chức cấp xã là cầu nối giữa Đảng, Nhà nƣớc với quần chúng nhân dân. Cán bộ, công chức cấp xã là những ngƣời trực tiếp đem chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành; đồng thời nắm bắt tình hình triển khai thực hiện chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc phản ánh cho Đảng và Nhà nƣớc để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho đúng và phù hợp với thực tiễn. - Vai trò trong quản lý và tổ chức công việc của chính quyền cơ sở Công chức cấp xã có vai trò quan trọng trong quản lý và tổ chức công việc của chính quyền cơ sở, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm lợi ích của nhân dân địa phƣơng.
Tùy theo vị trí, chức danh của mình, mỗi ngƣời công chức cấp xã sẽ đảm nhận và thực hiện những nhiệm vụ nhất định. Việc thực thi công vụ của họ có vai trò trực tiếp đảm bảo kỷ cƣơng, pháp luật đi vào thực tiễn ở cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con ngƣời, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự xã hội, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật. Thông qua hoạt động của đội ngũ công chức cấp xã, nhân dân thể hiện đƣợc quyền làm chủ và trực tiếp thực hiện quyền tự quản của mình ở địa phƣơng. Thực tiễn cho thấy rằng, nơi nào có đƣợc đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vững mạnh, đảm bảo chất lƣợng thì nơi ấy tình hình chính trị - xã hội ổn định, kinh tế, văn hóa phát triển, quốc phòng, an ninh đƣợc giữ vững, cán bộ, công chức đƣợc dân tin, mọi chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc đƣợc triển khai có kết quả.
Ngƣợc lại, ở đâu đội ngũ công chức cấp xã không đƣợc quan tâm đúng mức, không đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, hách dịch, cửa quyền 12 với nhân dân thì ở đó kinh tế - xã hội kém phát triển, quyền lợi của nhân dân không đƣợc đảm bảo, đời sống - xã hội bất ổn vì bị kẻ xấu lợi dụng kích động chống phá chính quyền, gây rối trật tự xã hội. - Vai trò trong xây dựng, hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, hoạt động thi hành nhiệm vụ, công sở. Trƣớc đây, do điều kiện lịch sử, kinh tế- xã hội nên chúng ta chƣa đánh giá đúng vị trí, vai trò của lực lƣợng công chức cấp xã vì vậy chƣa có sự quan tâm đúng mức đối với họ trên mọi phƣơng diện. Tuy nhiên, trong những năm qua và hiện nay, Đảng và Nhà nƣớc đã có sự đổi mới về mặt nhận thức đối với lực lƣợng công chức cấp xã, đã đánh giá rất cao vai trò của họ trong sự nghiệp cách mạng nƣớc ta.
Đó là sự thay đổi có ý nghĩa tích cực đối với việc xây dựng và hoàn thiện chính quyền cơ sở, nâng cao nhận chất lƣợng cán bộ, công chức cấp xã, góp phần vào sự thành công của sự nghiệp xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Các chức danh công chức cấp xã Điểm 3 Điều 61 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định Công chức cấp xã là nhóm ngƣời đƣợc tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân xã.