Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về công tác đào tạo nhân lực tại ngân hàng. Chương 2: Quy trình và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng công tác đào tạo nhân lực tại ngân hàng Thương Mại Cổ Phân Đại Chúng Việt Nam. Chương 4: một số giải pháp và kiến nghị nhằm góp phan nâng cao công tác đào tạo nhân lực tại ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Chúng Việt Nam CHUONG 1. TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NHÂN LỰC TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong nước Nghiên cứu về hoạt động đào tạo nhân lực tại các tổ chức đã trở thành một đề tài nghiên cứu được nhiều nhà hoạch định chính sách quan tâm trong nhiều thập kỷ qua. Với mỗi mục tiêu và bối cảnh nghiên cứu khác nhau, các học giả sẽ có những cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu khác nhau do đó sẽ có những sự khác biệt nhất định trong kết quả nghiên cứu. Dưới đây là sự tông hượp một số nghiên cứu noi bật liên quan đến công tác đào tạo nhân lực của tô chức: Nghiên cứu của Võ Xuân Tiến (2010) nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến dao tao và phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
Tác giả khang định nguồn lực quan trọng nhất của một doanh nghiệp là nguồn lực con người, bởi nguồn nhân lực là chủ thể của mọi hoạt động do đó sẽ quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Võ Xuân Tiến (2010) cũng đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các tô chức. Giáo trình quản trị nguồn nhân lực của nhóm tác giả Đoàn Gia Dũng và cộng sự (2006) đã tông hợp và làm rõ một cách cụ thể các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực như khái niệm, nội dung, quy trình dao tạo nguồn nhân lực. Những kiến thức được nêu ra trong giáo trình này sẽ giúp tác giả xây dựng khung lý thuyết cho các phần sau của nghiên cứu.
Đào Hữu Hòa (2013) nghiên cứu về van dé đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trình độ cao đăng, đại học trên địa bàn khu vực miền Trung — Tây Nguyên. Tác giả chỉ ra tại khu vực miền Trung — Tây Nguyên tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đại học, cao đăng còn hạn chế, phan lớn là lao động có trình độ phổ thông. Nguồn nhân lực này là không đủ chất lượng để đáp ứng nhu cầu phát triển nền kinh tế tại địa phương. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là do cơ cấu ngành nghề va cấp đào tạo còn chưa được tổ chức hợp lý.
Về công tác sử dụng thì niều lao động có trình độ dao tạo cao song lại không làm việc trong đúng ngành nghề đã được dao tao dẫn đến sự lãng phí trong sử dụng nguồn nhân lực tại địa phương. Đặng Hoàng Linh (2018) nghiên cứu về hoạt động phát triển nguồn nhân lực trong ngành ngân hàng nhăm thúc đây tăng trưởng kinh tế. Trong đó nghiên cứu tập trung vào công tác đào tạo nguồn nhân lực nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành ngân hàng trong tương lai. Tác giả cũng khang định hoạt động ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngân hàng.
Các ngân hàng cần đa dạng hóa nội dung đảo tạo gắn với quá trình tái cơ cấu ngân hàng dé phát triển nguồn nhân lực đáp ứng được sự phát trién. Trần Quốc Tuấn (2018) nghiên cứu về công tác đào tạo nguồn nhân lực ngành ngân hàng cho hội nhập nhìn từ cơ sở. Những đánh giá trong nghiên cứu này được đưa ra dưới góc nhìn của một nhà quản lý trong ngành ngân hàng. Nghiên cứu chỉ ra sự thiếu sót trong chất lượng nhân lực ngành ngân hàng của Việt Nam hiện nay và có sự đối sánh với các quốc gia trong khu vực và thế giới và đưa ra những nguyên nhân dẫn đến sự thiếu sót đó.
Trên cơ sở đó tác giả đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành ngân hàng trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Một nghiên cứu tiêu biểu phân tích cơ hội và thách thức đối với nguồn nhân lực Việt Nam là bài viết “Cơ hội và thách thức đối với lao động Việt Nam khi gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN” của PGS. TS Mạc Văn Tiến đăng tải trên Tạp chí Cộng sản năm 2015. Bài nghiên cứu đã đưa ra một số nhận định về tình hình nguồn lực lao động Việt Nam với các đặc trưng chủ yêu như: lực lượng lao động dồi dao và cơ cấu lao động trẻ, tuy nhiên tỷ lệ lao động tham gia vào thị trường lao động chính thức còn thấp với chất lượng và cơ cau lao động vẫn còn nhiều bat cập so với yêu cầu phát triển và hội nhập do cơ cau kinh tế chủ yếu vẫn phụ thuộc vào nông nghiệp; đồng thời chỉ ra nguyên nhân chính nằm ở công tác đào tạo hiện nay chưa phù hop, chất lượng đào tạo còn hạn chế.
Thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hiện nay” năm 2016 của tác giả Nguyễn Đắc Hưng. Thông qua điều tra thực trạng của nguồn nhân lực, tác giả đã đề xuất 08 giải pháp nhằm nâng cao chat lượng đào tạo nguồn nhân lực tại Việt Nam. Cảnh Chí Hoàng và Trần Vĩnh Hoàng (2013) nghiên cứu về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở một số nước phát triển như Mỹ, Nhật và một số nước có nền kinh tế đang phát triển và có đặc điểm kinh tế - chính trị - xã hội tương động với Việt Nam như Trung Quốc, Singapore và từ đó rút ra bài học kinh nghiệm về công tác phát triển nguồn nhân lực cho Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hoá và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Đề án phát triển đào tạo nguồn nhân lực ngành hàng không đến năm 2020 của Bộ Giao thông Vận tải (Quyết định số 4375/OD-BGTVT ngày 27/12/2013).
Đề án đã phân tích, đánh giá những điểm mạnh cũng như những hạn chế về thực trạng nguôn nhân lực và công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Việt Nam trong thời gian qua. Từ đó đề ra sự cần thiết cần xem xét lại các chính sách quy hoạch, phát triển đào tạo nguồn nhân lực tam nhìn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 của ngành Hàng không Việt Nam. Trên cơ sở tông hợp các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài tác giả nhận thấy hiện nay các công trình nghiên cứu về công tác dao tạo nhân lực tại tổ chức rất đa dạng. Tuy nhiên tác giả nhận thấy các nghiên cứu về công tác đảo tạo tại ngân hàng còn hạn chế, đặc biệt chưa có nghiên cứu nao được thực hiện tai Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam (PVcomBank).
Trong khi đó ngành ngân hàng là một ngành đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực có chất lượng cao và phải thích nghi nhanh chóng với sự biến động của nền kinh tế. Là một cán bộ tại khối nhân lực của Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam, tác giả thấy rằng cần thiết phải có một nghiên cứu nhằm phân tích và đánh giá thực trạng công tác đào tạo nhân lực tại đây dé từ đó xây dựng những giải pháp cụ thể, nhằm nâng cao hiệu quả công tác dao tạo nhân lực của ngân hàng trong tương lai. Tổng quan về tình hình nghiên cứu quốc tế Sajit Chandra Debnath (2014) nghiên cứu về công tác dao tạo nhân lực tạo các quốc gia Đông Á và tác động của công tác đào tạo đến sự thay đổi trong kinh tế của các quốc gia này. Thác giả này chỉ ra giai đoạn 2960 trở về trước các nước Đông Á đa phần là nước nghèo thậm chí nhiều quốc gia còn là thuộc địa của Nhật và Tây Âu.
Tuy nhiên từ sau khi giành độc lập thì các quốc gia này đã có sự chuyên mình mạnh mẽ trong cả kinh tế và xã hội. Trong thế kỷ 20 các quốc gia này đã phát triển nhanh chóng và khăng định vị thế của các quốc gia đi đầu trên thế giới. Nguyên nhân của sự thành công trên được cho là do chất lượng nguồn nhân lực cao và không ngừng được cải thiện. Các quốc gia này đầu tư mạnh mẽ cho hoạt động đào tạo, giáo dục chung của toàn xã hội.
Một trong những quốc gia tại khu vực Đông Á đi đầu trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực là Nhật Bản. Nhiều quốc gia đã học hỏi và phát huy các mô hình dao tạo nhân lực của Nhật Bản như Han Quốc, Đài Loan, HongKong và Singapore. Các quốc gia này một lần nữa cho thấy việc đầu tư mạnh cho giáo dục dé nang cao chat luong nguồn nhân lực là việc làm cần thiết để phát triển kinh tế. Theo nghiên cứu của World Bank (2014), mặc dù Việt Nam đang có rất nhiều lợi thế về nguồn nhân lực do đang ở trong thời kỳ dân số vàng, tuy nhiên, nguồn nhân lực Việt Nam cũng có nhiều hạn chế.
Tại Việt Nam hiện nay, lực lượng lao động đông về số lượng nhưng chất lượng chưa cao do thiếu lao động có tay nghề cao, sức bền còn hạn chế, kỹ năng quản lý còn nhiều bất cập. Sự mắt cân đối về kỹ năng giữa người lao động và yêu cầu của thị trường lao động chủ yếu dưới hình thức kỹ năng mềm — kỹ năng của người lao động thấp hơn và không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động. Ngân hàng Thế giới đánh giá Việt Nam đang thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao. Nếu lay thang điểm là 10 thi chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm, xếp thứ 11/12 nước châu Á tham gia xếp hạng của Ngân hàng Thế giới.
Việt Nam còn thiếu nhiều lao động lành nghề, nhân lực qua đảo tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của trị trường lao động và doanh nghiệp về tay nghề và các kỹ năng mềm khác. Trình độ ngoại ngữ của lao động Việt Nam chưa cao nên gap nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập. Những hạn chế, yếu kém của nguồn nhân lực là một trong những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nên kinh tê. Khoảng trồng nghiên cứu Các công trình nghiên cứu nêu trên có đóng góp ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn, đã đề cập khá rõ và đầy đủ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về hoạt động đảo tạo nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp.