Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác đào tạo nguồn nhân lực trong ngân hàng thương mại Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Sở giao dịch - Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Sở giao dịch - Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Nguồn nhân lực và công tác đào tạo nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm nhân lực và nguồn nhân lực (Human resource) Khái niệm nhân lực: “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động”1 Khái niệm nguồn nhân lực: Theo nghĩa rộng, có thể hiểu nguồn nhân lực là nguồn lực con người của đất nước. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực, nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con người.
Với tư cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định. Khái niệm về nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế phát triển từ những năm giữa thế kỷ XX, với ý nghĩa là nguồn lực con người, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển. Nội hàm nguồn nhân lực không chỉ bao hàm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lượng mà còn chứa đựng các hàm ý rộng hơn. Trước đây, nghiên cứu về nguồn lực con người thường nhấn mạnh đến chất lượng và vai trò của nó trong phát triển kinh tế xã hội.
Trong lý thuyết tăng trưởng kinh tế, con người được coi là một phương tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ 1 PGS.TS Trần Xuân Cầu, 2012, Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, trang 5. 9 tăng trưởng kinh tế bền vững, thậm chí con người được coi là một nguồn vốn đặc biệt cho sự phát triển-vốn nhân lực. Về phương diện này, Liên hiệp quốc cho rằng, nguồn lực con người là tất cả các kiến thức, kỹ năng và năng lực con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Ngày nay, nguồn nhân lực còn bao hàm khía cạnh về số lượng, không chỉ những người trong độ tuổi mà cả những người ngoài độ tuổi lao động.
Để kế tục sự phát triển bền vững trong nguồn nhân lực, bên cạnh nguồn nhân lực có thể thu hút vào các hoạt động hiện tại cần đặc biết chú ý nguồn nhân lực tương lai – trẻ em. Ở nước ta, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới. Nguồn lực con người còn được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất). Như vậy, nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai.
Từ những phân tích trên, ở dạng khái quát nhất, có thể hiểu “nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội”2 Theo nghĩa hẹp, trong phạm vi doanh nghiệp, có thể hiểu nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới.3 Về công tác đào tạo nguồn nhân lực, hiện nay chưa có nhiều tài liệu nêu rõ ràng về khái niệm này, tuy nhiên theo tìm hiểu của tác giả có thể hiểu “công tác đào tạo nguồn nhân lực” bao gồm hoạt động nghiên cứu về đào tạo nhân lực (bao gồm khâu đánh giá nhu cầu, thực hiện đào tạo), về bộ phận phụ trách hoạt động đào tạo 2 PGS.TS Trần Xuân Cầu, 2012, Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, trang 6. 3 Nicholas Henry, Public Administration and Public Affairs, p. 10 (số lượng chuyên viên nhân sự, trình độ học vấn, phân công công việc của họ…), về đánh giá hiệu quả sau đào tạo (hiệu quả phải được nhìn thấy sau đào tạo một khoảng thời gian) Phân loại nguồn nhân lực: - Nguồn nhân lực có sẵn trong dân cư: bao gồm toàn bộ những người nằm trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, không kể đến trạng thái có làm việc hay không làm việc.
Khái niệm này còn được gọi là dân cư hoạt động, nghĩa là tất cả những người có khả năng làm việc trong dân cư tính theo độ tuổi lao động quy định (nam từ 15-60, nữ từ 15-55 tuổi). - Nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động kinh tế: hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế. Đây là số người có công ăn việc làm, đang hoạt động trong các ngành kinh tế và văn hóa của xã hội. - Nguồn nhân lực dự trữ: bao gồm những người trong độ tuổi lao động, nhưng vì các lý do khác nhau, họ chưa có công việc làm ngoài xã hội.
Những người này đóng vai trò là nguồn dự trữ về nhân lực, gồm có: những người làm nội trợ trong gia đình, những người đã tốt nghiệp phổ thoongvaf các trường chuyên nghiệp, những người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, đang trong độ tuổi lao động nhưng chưa tìm dược việc làm. Nguồn nhân lực có sẵn trong dân cư bao gồm nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế và nguồn nhân lực dự trữ.2 Đào tạo nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm: “Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình truyền đạt và lĩnh hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết để người được đào tạo có thể thực hiện được các công việc, chuyên môn hoặc một nghề nào đó trong tương lai. Đào tạo gắn liền với quá trình học tập và giảng dạy. Nếu quá trình đào tạo không có giảng dạy thì gọi đó là quá 4 Mai Quốc Chánh, Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trang 10.
11 trình tự đào tạo do người học tự học tập nâng cao trình độcủa mình thông qua các tài liệu sách báo và thực tế hoạt động” 5 1.2 Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực: Đào tạo nguồn nhân lực là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp vủa mình và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, với thái độ tốt hơn Lợi ích cho doanh nghiệp Cho dù doanh nghiệp hoạt động thuộc lĩnh vực nào, với quy mô như thế nào thì việc đào tạo nhằm đúng vào nhu cầu của doanh nghiệp luôn mang lại những lợi ích đáng kể, bao gồm lợi ích hữu hình và lợi ích vô hình. Lợi ích hữu hình bao gồm: việc tăng sản lượng, giảm chi phí, tiết kiệm thời gian, tăng chất lượng sản phẩm và dịch vụ, giảm bớt sự giám sát. Lợi ích vô hình bao gồm: cải thiện thói quen làm việc, thái độ và hành vi thực hiện công việc, tạo ra môi trường làm việc tốt hơn, tạo điều kiện để áp dụng tiến bộ lỹ thuật và quản lý vào doanh nghiệp, nâng cao hình ảnh của công ty trên thương trường. Lợi ích cho cá nhân Đối với người lao động, đào tạo góp phần tạo ra sự gắn bó giữa người lao dộng và doanh nghiệp, tạo sự thích ứng giữa người lao động với công việc, đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng phát triển của người lao động, tạo cho họ cách nhình và tư duy mới trong công việc nhằm phát huy tính sáng tạo 1.3 Đặc điểm của đào tạo nguồn nhân lực - Đào tạo đòi hỏi phải có thời gian.
Tùy theo hình thức đào tạo mà thời gian đào tạo có thể dài ngắn khác nhau. Đặc điểm này đòi hỏi đào tạo phải có kế hoạch từ trước để đảm bảo chất lượng đào tạo. - Đào tạo đòi hỏi phải có chi phí. Chi phí đào tạo là tất cả các khoản chi mà Nhà nước, tổ chức, cá nhân người lao động phải bỏ ra do quá trình đào tạo.
Chi phí này sẽ được hạch toán vào giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.TS Trần Xuân Cầu, 2012, Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, trang 91. 12 - Rất khó đánh giá chính xác hiệu quả đào tạo. Hiệu quả đào tạo được đánh giá thông qua kết quả đào tạo mang lại dựa trên chi phí đào tạo bỏ ra. Chi phí đào tạo có thể dễ đánh giá, trong khi kết quả đào tạo mang lại rất khó xác định.
Mặt khác, hiệu quả đào tạo thường không phải thấy ngay mà phải sau một thời gian mới thể hiện6.4 Các phương pháp đào tạo nguồn nhân lực: Đào tạo trong công việc: là các phương pháp đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc, trong đó người học sẽ học được những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc thực tế thông qua thực tế thực hiện công việc dưới sự hướng dẫn của những người lao động lành nghề hơn, có nhiều kinh nghiệm hơn. Nhóm này bao gồm những phương pháp: - Đào tạo theo kiểu chỉ dẫn công việc: người dạy giới thiệu và giải thích về mục tiêu công việc, chỉ dẫn tỉ mỉ theo từng bước cho tới khi người học thành thạo công việc. - Đào tạo theo kiểu học nghề: Chương trình đào tạo bắt đầu bằng việc học lý thuyết trên lớp, sau đó các học viên được đưa đến làm việc dưới sự hướng dẫn của công nhân lành nghề trong một vài năm cho tới khi thành thạo tất cả các kỹ năng của nghề.