mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về đào tạo nguồn nhân lực hành chính công. Chƣơng 2: Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực khu vực hành chính công tỉnh Gia Lai. Chƣơng 3: Định hƣớng và một số giải pháp để đào tạo nguồn nhân lực khu vực hành chính công tỉnh Gia Lai. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, hội thảo, các bài viết về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực hành chính công, đáng chú ý là một số công trình sau: Đề tài khoa học: "Các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ công chức hành chính nhà nƣớc ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay" của Học viện Hành chính Quốc gia, do Giáo sƣ, Tiến sĩ Bùi Văn Nhơn làm chủ nhiệm, đã đề cập vị trí, vai trò của đội ngũ công chức hành chính trong bối cảnh CNH-HĐH đất nƣớc đang diễn ra mạnh mẽ với những thời cơ, vận hội và thách thức mới đang nảy sinh, đòi hỏi công tác cán bộ phải có những chuyển biến mới.
Sở Nội vụ thành phố Đà Nẵng đã hoàn thành Đề tài "Giải pháp quản lý và phát triển đội ngũ CB,CC,VC của thành phố Đà Nẵng đến năm 2015", trong đó xác định vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức và yêu cầu của tiến trình cải cách hành chính, xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; hệ thống hóa thể chế quản lý và đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức của Thành phố; dự báo các yêu cầu đối với công tác quản lý và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức từ nay đến năm 2015; đề xuất các giải pháp phục vụ cho việc hoạch định các chính sách, thực hiện các biện pháp để nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển đội ngũ cán bộ, Luan van 6 công chức của Thành phố. "Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực cho một số ngành kinh tế-kỹ thuật và ngành công nghệ cao trên địa bàn thành phố Đà Nẵng" là đề tài khoa học do Phó giáo sƣ, Tiến sĩ Võ Xuân Tiến, Đại học Đà Nẵng làm chủ nhiệm, đã làm rõ một số vấn đề lý luận về nguồn nhân lực, chất lƣợng nguồn nhân lực và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực. Luận giải một cách khoa học nguồn nhân lực chất lƣợng cao là động lực cho quá trình CNH- HĐH rút ngắn, tiếp cận kinh tế trí thức ở Việt Nam. Khảo sát, nghiên cứu thực trạng chất lƣợng nguồn nhân lực ở thành phố Đà Nẵng, làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu của chất lƣợng nguồn nhân lực đó, đƣa ra những giải pháp khả thi nhằm khắc phục những hạn chế về mặt chất lƣợng nguồn nhân lực, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực cho một số ngành kinh tế-kỹ thuật và ngành công nghệ cao tại Thành phố.
Phó giáo sƣ, Tiến sĩ Võ Xuân Tiến cũng đã hoàn thành đề tài khoa học: "Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trong các cơ quan hành chính cấp quận (huyện), phƣờng (xã) trên địa bàn thành phố Đà Nẵng", trong đó đã đánh giá hiện trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt hiện có trong các cơ quan hành chính cấp quận (huyện), phƣờng (xã) trên địa bàn Thành phố. Trên cơ sở đó, đề xuất những biện pháp có tính khoa học, khả thi để xây dựng và phát triển nguồn nhân lực đủ sức hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Thành phố theo yêu cầu hiện nay. Tại tỉnh Gia Lai, đến nay vẫn chƣa có một công trình nghiên cứu v ề đào tạo nguồn nhân lực hành chính công một cách có hệ thống và toàn diện dƣới góc độ kinh tế phát triển. Luan van 7 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC HÀNH CHÍNH CÔNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC HÀNH CHÍNH CÔNG 1. Nguồn nhân lực hành chính công a. Các khái niệm - Nguồn nhân lực Khái niệm nguồn nhân lực (NNL) hiện nay khá phổ biến trong văn phong nền kinh tế. Tuy nhiên, cho đến nay quan niệm về vấn đề này hầu nhƣ chƣa thống nhất, tùy theo mục tiêu cụ thể mà ngƣời ta có những quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực.
Theo Liên Hiệp Quốc (United Nations), "Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nƣớc" [12]. "Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con ngƣời bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp,… của mỗi cá nhân" là quan niệm của Ngân hàng thế giới (World Bank) [12]. "Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động" là quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (International Labor Organization) [12]. Xét về tổng thể, nguồn nhân lực là tiềm năng lao động của con ngƣời trên các mặt số lƣợng, cơ cấu (ngành nghề, trình độ đào tạo, cơ cấu vùng miền, cơ cấu ngành kinh tế) và chất lƣợng, bao gồm phẩm chất và năng lực (trí lực, tâm lực, thể lực, kỹ năng nghề nghiệp) đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế -xã Luan van 8 hội trong phạm vi quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phƣơng hay ngành và năng lực cạnh tranh trong phạm vi quốc gia và thị trƣờng lao động quốc tế [11].
Với tƣ cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thì NNL bao gồm toàn bộ dân cƣ có khả năng lao động, không phân biệt ngƣời đó đang phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội. Với tƣ cách là khả năng đảm đƣơng lao động chính của xã hội thì nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động có khả năng lao động [14]. Nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con ngƣời cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các nhân tố về thể chất và tinh thần đƣợc huy động vào quá trình lao động. Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con ngƣời (trƣớc hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực và nhân cách của con ngƣời đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định.
Nguồn nhân lực vừa là phƣơng tiện vừa là mục đích, NNL tƣơng tác với các nguồn lực khác đó là con ngƣời có cá tính, năng lực riêng [14]. Nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nƣớc, hay một địa phƣơng sẵn sàng tham gia một công việc nào đó [8]. Nguồn nhân lực là toàn bộ kiến thức, kỹ năng và sức ngƣời cần đầu tƣ vào kinh doanh để đạt đƣợc thành công [11]. Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời.
Nguồn lực đó đƣợc xem xét ở hai khía cạnh. Trƣớc hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. NNL nằm ngay trong bản thân con ngƣời, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con ngƣời và nguồn lực khác. Thứ hai, NNL đƣợc hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con ngƣời.
Với tƣ cách là nguồn lực của quá trình phát triển, NNL là nguồn lực con ngƣời có khả năng sáng tạo ra của cải Luan van 9 vật chất và tinh thần cho xã hội đƣợc biểu hiện ra là số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định [2]. Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó [1]. Nguồn nhân lực của một doanh nghiệp bao gồm các phẩm chất, kinh nghiệm sống, kiến thức, óc sáng tạo, năng lƣợng và nhiệt huyết mà đội ngũ nhân viên cống hiến cho công việc của họ [7]. Các quan niệm trƣớc đây đều cho rằng lợi thế cạnh tranh chủ yếu của một quốc gia hay một tổ chức là khả năng tài chính mạnh, kỹ thuật công nghệ phát triển.
Ngày nay, xã hội đã nhìn nhận đƣợc rằng tính năng động, sáng tạo, tự quyết định và bản thân con ngƣời mới là nguồn lực quan trọng và không thể thay thế. Nguồn nhân lực là một bộ phận của nguồn lực có khả năng huy động tổ chức để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội bên cạnh các nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính. Nhƣ vậy, khi đề cập đến nguồn nhân lực trƣớc hết phải hiểu đó là toàn bộ những ngƣời lao động đang có khả năng tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội và các thế hệ những ngƣời lao động tiếp tục tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội, con ngƣời đóng vai trò là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó, hƣớng nó tới mục tiêu đã đƣợc chọn. Cho nên nguồn nhân lực nó còn bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm việc, đó chính là các yếu tố thuộc về chất lƣợng nguồn nhân lực.
- Hoạt động hành chính công Trong nhiều tài liệu nghiên cứu về hành chính công (HCC), mỗi một nhà nghiên cứu, nhà quản lý trong cơ quan Nhà nƣớc hiểu và tiếp cận hành chính công dƣới những giác độ khác nhau. Hành chính công chính là các hoạt động liên quan đến xây dựng chính sách và thực hiện chính sách công [12]. Luan van 10 Quá trình liên quan đến thực hiện chính sách bằng việc tập hợp nhiều loại kỹ năng, kỹ thuật, đƣa ra những quy định và mục đích để thu hút nhiều ngƣời và đạt đƣợc mục đích chính là hoạt động hành chính công [12]. Hành chính công là hoạt động của Nhà nƣớc, của các cơ quan nhà nƣớc, mang tính quyền lực Nhà nƣớc, sử dụng quyền lực Nhà nƣớc để quản lý công việc công của Nhà nƣớc nhằm phục vụ lợi ích chung hay lợi ích riêng hợp pháp của các công dân [10].
Hành chính công là hoạt động quản lý của các tổ chức quản lý công (chủ yếu là của các cơ quan quản lý hành chính Nhà nƣớc) nhằm giải quyết những công việc công cộng và dịch vụ công cho xã hội [9].