Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2015 - 2019. Phương hướng và giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk đến năm 2025.
Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Các khái niệm về quản lý cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý. Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú.
Trang tin điện tử Chuyên trang giáo dục nghề nghiệp ngày 22/03/2017, các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý khác nhau như sau [39, tr.1]: - Theo Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm ". - Theo Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy” - Theo Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định". 8 - Theo Peter FDruker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn.
Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích". Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, quản lý khi là động từ mang ý nghĩa: “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định. Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý”. Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế “phát triển”.
Nếu người quản lý chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý”, tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì hệ thống sẽ phát triển không bền vững. Nói chung, trong “quản” phải có “lý” và trong “lý” phải có “quản”, làm cho hoạt động của hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng. Sự quản lý đưa đến kết quả đích thực bền vững đòi hỏi phải có mưu lược, nghệ thuật làm cho hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau. Từ các khái niệm về quản lý đã nêu, có thể hiểu quản lý như sau: Quản lý là tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định.
Quản lý nhà nước Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước. Quản lý nhà nước gắn liền với chủ thể quản lý là bộ máy nhà nước để thực thi quyền lực nhà nước, gắn liền với công cụ, phương tiện quản lý quan trọng nhất đó là 9 pháp luật do nhà nước đặt ra để quản lý toàn bộ xã hội, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống. Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, cá nhân trong bộ máy quản lý nhà nước được trao quyền, gồm: Cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp; đối tượng quản lý của Nhà nước là tất cả các tổ chức, cá nhân sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, công dân làm việc bên ngoài lãnh thổ quốc gia. Quản lý nhà nước là quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao; quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công cụ pháp luật nhà nước, chính sách để quản lý xã hội.
Mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của toàn xã hội. Theo một số nhà nghiên cứu hành chính, luật pháp cho rằng: Theo các tác giả của “1200 thuật ngữ pháp lý Việt Nam” quan niệm: Quản lý nhà nước là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước. Các tác giả của Đề tài “Nội dung và phương thức hoạt động của bộ máy nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” đã đưa ra khái niệm về quản lý nhà nước như sau: “ Quản lý nhà nước là hoạt động có tổ chức bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước (công quyền) điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của công dân và mọi tổ chức xã hội, chính trị, khoa học, văn hóa - xã hội nhằm giữ gìn thể chế chính trị, trật tự xã hội và phát triển xã hội theo những mục tiêu đã định”[16, tr. Trong cuốn sách đo lường và đánh giá hiệu quả quản lý HCNN.Tr10 Nguyễn Đăng Thành quan niệm Quản lý nhà nước “là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời 10 sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm thỏa mãn yêu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội ”[19].
Theo “Giáo trình Lý luận hành chính nhà nước do PGS. Nguyễn Hữu Hải chủ biên, Tr.2” có viết: Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với nhà nước, là quản lý công việc của nhà nước (là sự quản lý của nhà nước đối với xã hội và công dân). Nội hàm của quản lý nhà nước thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử [14]. Ngày nay, quản lý nhà nước xét về mặt chức năng bao gồm hoạt động lập pháp, hoạt động hành chính (chấp hành và điều hành) và hoạt động tư pháp.
Với những đặc điểm trên, có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật, chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Từ các khái niệm về quản lý nhà nước đã nêu, có thể hiểu quản lý nhà nước về đào tạo nghề như sau: - Quản lý nhà nước về đào tạo nghề: Là sự tác động có tổ chức và điều hành bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động đào tạo nghề, do các cơ quan quản lý đào tạo nghề của nhà nước từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước ủy quyền nhằm phát triển sự nghiệp đào tạo nghề, duy trì trật tự, kỷ cương, thỏa mãn nhu cầu được đào tạo nghề của lao động xã hội và thực hiện mục tiêu phát triển sự nghiệp đào tạo nghề của Nhà nước. - Quản lý nhà nước về đào tạo nghề mang tính quyền lực nhà nước, lấy pháp luật làm công cụ quản lý là chủ yếu nhằm tạo lập và phát triển được nguồn lực quyết định nhất cho sự phát triển, đó là nguồn lực con người được 11 đào tạo nghề đáp ứng cho yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do đó, quản lý nhà nước về ĐTN có vai trò to lớn và việc thường xuyên hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo nghề là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển Giáo dục - Đào tạo và đào tạo nghề nghiệp của quốc gia.
Nghề và đào tạo nghề 1. Nghề Nghề là một khái niệm rộng phức tạp, đặt vào từng hoàn cảnh hay xét theo mỗi góc độ cụ thể khái niệm này có phạm vi rộng, hẹp khác nhau. Ở các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam từng giai đoạn cụ thể có nhiều định nghĩa về nghề khác nhau [20, tr.8]: - Ở Nga nghề được định nghĩa: Là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn. - Ở Pháp nghề được định nghĩa: Là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sinh sống.
- Ở nước Anh nghề được định nghĩa: Là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học nghệ thuật. - Ở Đức nghề được định nghĩa: Là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở một trình độ nào đó. Như vậy, nghề là một hiện tượng xã hội gắn chặt với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại. Ở Việt Nam, hiểu theo một nghĩa chung nhất: Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.
Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có thể thấy một số nét đặc trưng sau: Một là, nghề là hoạt động, là công việc lao động của con người được lặp đi lặp lại. 12 Hai là, nghề là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội. Ba là, nghề là phương tiện để sinh sống. Bốn là, nghề là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội, đòi hỏi phải có quá trình đào tạo nhất định.
Nghề biến đổi một cách mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.