CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ TRONG CQHCNN Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội. Do đó khi nghiên cứu đạo đức nói chung cũng như đạo đức công vụ, cần xem xét dựa trên nền tảng chung của các quan niệm về đạo đức và đạo đức nghề nghiệp. Hoạt động thực thi công việc của những người làm việc cho nhà nước trên một nghĩa rộng là hoạt động thực thi công vụ. Tuy nhiên, định nghĩa công vụ không giống nhau giữa các nước.
Do đó, hoạt động công vụ cũng có thể coi là một loại "nghề nghiệp" và khi nghiên cứu đạo đức công vụ cũng cần phải dựa trên những nền tảng chung về đạo đức nghề nghiệp vận dụng vào "nghề đặc biệt – công vụ". Công vụ là một từ được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tùy theo từng nước. Tuy nhiên, đó cũng chính là những loại công việc do chính những người của nhà nước thực hiện. Thực thi các loại công việc trong cơ quan nhà nước cũng được tiếp cận mang tính nghề nghiệp cao và có mối quan hệ với nhiều người.
Đạo đức công vụ trên nguyên tắc chung là đạo đức thực thi công việc nhà nước giao cho công chức (hoặc những người được pháp luật đặt tên là công chức). Điều đó có nghĩa là đạo đức công vụ bao gồm 2 yếu tố: - Đạo đức của chính cá nhân từng công chức trong đời sống xã hội; - Đạo đức khi thực thi công vụ của nhà nước do chính công chức thực hiện. Khi nghiên cứu đạo đức cá nhân người công chức, luôn gắn liền với những yếu tố, nội dung liên quan đến đạo đức cá nhân, đạo đức xã hội và được thu tóm lại đạo đức của công chức – một loại người đặc biệt trong xã hội. Khi nghiên cứu đạo đức thực thi công vụ tức là nghiên cứu những khía cạnh đạo đức mang tính nghề nghiệp của một loại nghề nghiệp đặc biệt là công vụ.
Đạo đức công vụ do đó gắn liền với đạo đức nghề nghiệp nói chung được vận dụng vào trong một loại nghề nghiệp đặc biệt – công vụ. Đạo đức Có rất nhiều cách tiếp cận về định nghĩa "đạo đức" và khó có thể đưa ra một định nghĩa đầy đủ về nó. Trong ngôn ngữ nước ngoài, đạo đức thường được sử dụng bằng những từ "moral, ethics, morality hoặc conduct". Mỗi một từ đó trong nhiều trường hợp được sử dụng với những nghĩa khác nhau nhưng cũng không ít trường hợp sử dụng thay thế nhau.
Trong ngôn ngữ Tiếng Việt và Hán Việt, "đạo đức" được nhiều người tách ra thành hai nghĩa "đạo" và "đức". Điều này làm cho khái niệm và nội hàm của "đạo đức" rất phong phú nhưng cũng rất phức tạp. Đạo đức là một hiện tượng xã hội, một phương diện của đời sống xã hội, một yếu tố cấu thành hệ thống xã hội. Cụ thể hơn, đạo đức là một lĩnh vực đạo thù của đời sống xã hội bên cạnh các lĩnh vực khác (kinh tế, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo…).
Có thể tiếp cận khái niệm "đạo đức" qua một số góc nhìn: - Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội Các nhà nghiên cứu đạo đức học, triết học thường nhìn nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, bên cạnh các hình thái ý thức xã hội khác (chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học). Với tư cách là hình thái ý thức xã hội, đạo đức thể hiện thông qua các "nguyên tắc, quy tắc, các chuẩn mực, giá trị định hướng, điều chỉnh hành vi của con người và hoạt động của xã hội". Đạo đức là thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc nhằm điều chỉnh, đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội, với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội1 Xét về mặt nhận thức, đạo đức là phản ánh sự tồn tại xã hội, do đó đạo đức bị chi phối, quyết định bởi tồn tại xã hội. Thực trạng của một xã hội ở từng giai đoạn khác nhau được thể hiện qua những yếu tố: Đời sống vật chất của xã hội; mức độ sản xuất vật chất của xã hội; các quan hệ con người với nhau trong quá 1 Học viện Chính trị Quốc Gia (2000).
Giáo trình đạo đức học. Nxb Chính trị Quốc Gia 6 trình sản xuất của xã hội. Điều hiển nhiên với sự chấp nhận phản ánh tồn tại xã hội của đạo đức, tùy thuộc vào thực trạng của xã hội mà sẽ tạo ra một "đạo đức thích ứng". Không có một loại hình đạo đức bất biến.
- Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi con người. Con người ứng xử, quan hệ giao tiếp với nhau trên một nền tảng chung là cùng chia sẻ lợi ích, mối quan hệ con người với nhau và với cộng đồng đều dựa trên hai nhóm lợi ích: lợi ích cá nhân; lợi ích chung, tập thể, cộng đồng. Quan hệ giữa con người với con người và con người với cộng đồng trên khía cạnh lợi ích là "hài hòa lợi ích các bên" trong những điều kiện cụ thể. Nhờ sự hài hòa lợi ích mà một cá nhân hay một cộng đồng mới có thể tồn tại, phát triển một cách bình thường.
- Đạo đức là một hệ thống hài hòa các giá trị của cá nhân, xã hội và tổ chức. Đạo đức là những gì con người cần có trong quan hệ ứng xử hàng ngày với nhau: lịch sự, biết ơn, lễ độ; tự trọng; tôn trọng; thật thà; giản dị; tiết kiệm; trung thực; tôn sư trọng đạo; tự tin; đoàn kết; dũng cảm; khoan dung; siêng năng; tương trợ; liêm khiết tự lập; giữ chữ tín; chí công vô tư; tự chủ; lí tưởng; năng động; sáng tạo… Một cách tiếp cận khác về hiện tượng đạo đức, được phân tích bao gồm 3 thành tố sau: Ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức. Ý thức Hành vi ĐẠO ĐỨC Quan hệ 7 - Ý thức đạo đức: Đó chính là sự nhận biết của con người về những gì họ có thể có được trong một cộng đồng, một xã hội nhất định. Những lợi ích cá nhân mà họ có phải được nhìn nhận từ những mối quan hệ với các nhóm lợi ích khác.
Khi con người nhận thức đúng được các vấn đề liên quan đến quyền lợi chung, riêng đó và nâng lên thành tình cảm, quan điểm, quan niệm của sự tồn tại. Khi đó họ đã nâng lên thành ý thức và đó trở thành ý thức đạo đức của con người đó. Ý thức cũng có thể coi là sự nhận thức "đúng – sai"; "tốt – xấu" trong tương quan với các cá nhân khác. - Hành vi đạo đức: Đó chính là những biểu hiện ra bên ngoài của một cá nhân cụ thể trong những điều kiện cụ thể.
Đó chính là những động cơ thôi thúc con người hành động (không hành động cũng là một sự hành động). Những hành động, hành vi đó có thể do chính ý thức dẫn dắt, nhưng cũng có thể do những "yếu tố khác" tạo nên. Tuy nhiên, giữa ý thức và hành vi có thể có những sai lệch do yếu tố bên ngoài tác động. Đây cũng chính là sự kết hợp của đạo đức mang tính ý thức, nhận thức với đạo đức cụ thể (hành vi).
Hay chính là nói và làm. Nếu đạo đức chỉ là những "ý thức tư duy trong đầu", khó có thể biết được bản chất "đạo đức" của chính con người đó. Mặt khác, nếu ý thức được diễn đạt bằng những cụm từ rất hoa mỹ "tôn trọng, thủy chung, tránh điều ác; tránh tham lam của người khác", nhưng lại không thể hiện bằng những hành động cụ thể, khó có thể đánh giá "ý thức đạo đức". Hành vi đạo đức là sự biểu hiện ra bên ngoài của ý thức đạo đức: Mọi hành vi được thực hiện do thôi thúc của một động cơ nào đó.
Khi hành vi được thực hiện do thôi thúc của ý thức đạo đức thì nó được gọi là hành vi đạo đức. Hành vi đó thể hiện ý thức đạo đức và văn hóa đạo đức của cá nhân. - Quan hệ đạo đức: Là hệ thống những quan hệ xã hội, tác động qua lại giữa người với người, giữa cá nhân và xã hội xét về mặt đạo đức. Quan hệ đạo đức vận động, biến đổi theo quá trình phát triển của xã hội.
Quan hệ đạo đức có các đặc tính là tính tự giác và tính tự nguyện. Tính tự giác thể hiện ở sự nhận thức trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân mỗi người trong những tình huống cụ thể khi tham gia vào quan hệ đạo đức. Tính tự nguyện thể hiện ở nhu cầu và 8 ham muốn của bản thân mỗi người trong quan tâm, tương trợ, giúp đỡ người khác. Ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức là những yếu tố cấu tạo nên cấu trúc đạo đức, không tồn tại độc lập, mà có quan hệ biện chứng với nhau.
Đạo đức không phải do nó sinh ra mà là một quá trình hình thành và phát triển. Tùy theo từng giai đoạn phát triển của xã hội, sự hình thành những "chuẩn mực giá trị đạo đức" cũng không giống nhau. Đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội 1. Quan niệm đạo đức cá nhân Cá nhân từng con người sẽ tạo nên xã hội.
Tuy nhiên mỗi con người thường có những tính cách riêng. Và thông qua những tính cách đó, những biểu hiện ra bên ngoài thông qua các hoạt động cụ thể cũng chịu chi phối bởi nhiều yếu tố, trong đó tính cách của từng con người. Mỗi một người có những bản ngã nhất định (cái tôi) và chính vì vậy đứng trước bất cứ sự việc gì, con người đều có những cách ứng xử và mỗi một cách đó tạo ra phong thái riêng cho hoạt động của chính họ. Con người trong các hoạt động xã hội là cách ứng xử, quan hệ với nhau trong đời sống xã hội, cộng đồng.
Một xã hội nếu biết "nhường nhịn, giúp đỡ lẫn nhau" chắc sẽ là một xã hội trật tự hơn so với những gì đang xảy ra hiện nay ở các nước trong đó có Việt Nam. Những sự chen lấn, tranh giành lẫn nhau đang làm cho trật tự giao thông đô thị ngày càng xấu đi. Đạo đức cá nhân trước hết cũng chính là những giá trị mà tự bản thân hướng đến. Đó chính là những "giá trị" mà từng cá nhân cố gắng tạo ra cho mình.
Trong những nghiên cứu về chủ nghĩa cá nhân, những vấn đề liên quan đến "giá trị" đó nếu như bị xã hội không thừa nhận sẽ được coi như "không có đạo đức".