Chương 1 GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CHO CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Đạo đức công vụ và giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức 1. Khái niệm đạo đức công vụ và giáo dục đạo đức công vụ 1. Khái niệm đạo đức công vụ Đạo đức công vụ của người công chức, viên chức gắn liền với đạo đức xã hội.
Đồng thời đạo đức công vụ là đạo đức nghề nghiệp đặc biệt - đạo đức trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức. Do đó, đạo đức công vụ gắn chặt với quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm và những điều công chức, viên chức không được làm, cách ứng xử của công chức, viên chức khi thi hành công vụ do pháp luật quy định. Vì vậy, đồng thời với những cố gắng để biến những quy định pháp luật đối với công chức, viên chức thành những chuẩn mực đạo đức công vụ, nêu cao tính tự giác, trách nhiệm phục vụ nhân dân của công chức, viên chức thì cần thể chế hoá những chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức thành những quy phạm pháp luật. Ở nước ta hiện nay, các quy định về đạo đức công vụ của công chức, viên chức đã được thể hiện trong nhiều văn bản như: Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí… Luật Cán bộ, công chức trong Điều 15 quy định đạo đức của cán bộ, công chức: “Cán bộ, công chức phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ”[31, tr.
Điều 18 quy định những việc cán bộ, công chức không được làm liên quan đến đạo đức công vụ, gồm: 1. Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công. Sử 11 dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật. Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi.
Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức. Điều 36 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức: Quy tắc ứng xử là các chuẩn mực xử sự của cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội, bao gồm những việc phải làm hoặc không được làm, phù hợp với đặc thù công việc của từng nhóm cán bộ, công chức, viên chức và từng lĩnh vực hoạt động công vụ, nhằm bảo đảm sự liêm chính và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức. Điều 37 của Luật này đã quy định những việc cán bộ, công chức, viên chức không được làm. Đồng thời, quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức của một số tổ chức, bộ, ngành, địa phương đã được ban hành như: Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương; Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức ngành văn hóa, thể thao và du lịch.; Đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức ở nước ta được xây dựng trên nền tảng triết lý Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nhân dân là chủ, cán bộ, công chức, viên chức là công bộc của dân; giá trị cao nhất của đạo đức công vụ là phục vụ nhân dân, vì lợi ích nhân dân.
Do vậy, phát huy đạo đức công vụ chính là đề cao trách nhiệm phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân của người cán bộ, công chức, viên chức; từ đó củng cố lòng tin của người dân vào nền công vụ của đất nước. Từ những phân tích trên có thể hiểu: Đạo đức công vụ là hệ thống các chuẩn mực quy định nhận thức và hành động được xem là tốt hay xấu, là nên 12 hay không nên làm; cao thượng hay thấp hèn; chính nghĩa hay phi nghĩa… trong hoạt động công vụ của người công chức, viên chức nhằm xây dựng một nền công vụ trách nhiệm, chuyên nghiệp và trong sạch, tận tụy, công tâm mang tính phục vụ cao. Đạo đức công vụ được hiểu là đạo đức thực thi nhiệm vụ công của công chức, viên chức; là những giá trị và chuẩn mực đạo đức được áp dụng cho một nhóm người nhất định trong xã hội - công chức, viên chức, trong lĩnh vực hoạt động cụ thể là công vụ. Cấu trúc của đạo đức công vụ Đạo đức bao gồm các yếu tố cấu thành là: Ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức.
Theo đó, đạo đức công vụ cũng được hình thành bởi ba yếu tố trên. - Ý thức đạo đức công vụ: Cán bộ, công chức, viên chức không thể sống bên ngoài các mối quan hệ xã hội. Để sống và làm việc, công chức, viên chức phải có các mối quan hệ với nhau. Các mối quan hệ này dựa trên việc giải quyết hài hòa những lợi ích cá nhân, tập thể, xã hội.
Những nguyên tắc bảo đảm cho sự phù hợp của những quyền lợi ấy khi đã trở thành tình cảm, quan điểm, quan niệm sống của cán bộ, công chức chính là ý thức đạo đức công vụ. - Hành vi đạo đức: Mọi hành vi đều được thực hiện do thôi thúc của một động cơ nào đó. Khi hành vi được thực hiện do thôi thúc của ý thức đạo đức thì nó được gọi là hành vi đạo đức. Hành vi đạo đức công vụ thể hiện ý thức đạo đức công vụ và văn hoá đạo đức của cá nhân công chức, viên chức.
Hành vi đạo đức công vụ tác động trực tiếp đến người công chức, viên chức trong việc hoàn thành trách nhiệm của mình và gắn liền với ý thức đạo đức của công chức, viên chức. - Quan hệ đạo đức công vụ: Quan hệ đạo đức công vụ là những quan hệ đã được ý thức đạo đức công vụ điều chỉnh giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể và xã 13 hội. Những quan hệ này thường được hình thức hoá bằng những nghi thức xã hội, những phong tục, tập quán. vì thế một mặt nó thể hiện ý thức đạo đức, mặt khác nó đóng vai trò hình thành và củng cố ý thức đạo đức, trong đó có ý thức đạo đức công vụ.
Khái niệm giáo dục đạo đức công vụ * Khái niệm giáo dục: Giáo dục được nhắc đến trong nhiều cách tiếp cận khác nhau song xét trên một bình diện nào đó thì giáo dục là thuật ngữ dùng trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng, thay đổi nhận thức con người. Hiểu theo nghĩa rộng thì: Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có phương pháp, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho họ. Theo nghĩa hẹp thì giáo dục là quá trình hình thành cho người được giáo dục lý tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao tiếp. Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày “Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người”.
Định nghĩa này nhấn mạnh về sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học, nhưng không đề cập đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối cùng của việc đó. Có thể nói, giáo dục là một yếu tố cơ bản, cốt lõi trong sự phát triển xã hội. Các khái niệm về giáo dục được thể hiện ở các khía cạnh cụ thể sau: - Về bản chất, giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người. - Về hoạt động, giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách.
14 - Về mặt phạm vi, khái niệm giáo dục bao hàm nhiều góc độ khác nhau: + Ở cấp độ rộng nhất, giáo dục được hiểu đó là quá trình xã hội hóa con người. Quá trình xã hội hóa con người là quá trình hình thành nhân cách dưới ảnh hưởng của tác động chủ quan và khách quan, có ý thức và không có ý thức của cuộc sống, của hoàn cảnh xã hội đối với các cá nhân. + Ở cấp độ thứ hai, giáo dục có thể hiểu là giáo dục xã hội. Đó là hoạt động có mục đích của xã hội, với nhiều lực lượng giáo dục, tác động có hệ thống, có kế hoạch đến con người để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách.
+ Ở cấp độ thứ ba, giáo dục được hiểu là quá trình sư phạm, quá trình sư phạm là quá trình tác động có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của các nhà sư phạm trong nhà trường tới học sinh nhằm giúp học sinh nhận thức, phát triển trí tuệ và hình thành những phẩm chất nhân cách. Ở cấp độ này, giáo dục bao gồm: Quá trình dạy học và quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp. + Ở cấp độ thứ tư, giáo dục được hiểu là quá trình bồi dưỡng để hình thành những phẩm chất đạo đức cụ thể, thông qua việc tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao tiếp xã hội. Có cách hiểu cho rằng: Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội.
Có quan niệm lại coi giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích xác định được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống) của các cơ quan giáo dục chuyên nghiệp (nhà trường) nhằm phát triển toàn diện nhân cách. Lại cũng có những quan điểm cho rằng, giáo dục là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người được giáo dục dưới quan hệ của những 15 tác động sư phạm của nhà trường, chỉ liên quan đến các mặt giáo dục như: trí học, đức học, thể dục, mỹ học. Ngoài ra giáo dục còn được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người được giáo dục chỉ liên quan đến giáo dục đạo đức. Sự ra đời và phát triển của giáo dục gắn liền với sự ra đời và phát triển của xã hội.