Chương 1 ĐẠO ĐỨC VÀ ĐẠO ĐỨC CÔNG CHỨC 1. Khái lược về đạo đức và đạo đức công chức 1. Khái lược về đạo đức Xã hội loài người đã tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi của con người như phong tục, tập quán, pháp luật, và đạo đức cũng là một phương thức điều chỉnh hành vi con người. Đạo đức đánh giá hành vi con người dưới giác độ và chuẩn mực về thiện, ác, nghĩa vụ, danh dự, lương tâm, hạnh phúc.
Xã hội nào, thời kỳ lịch sử nào cũng đánh giá đạo đức dưới giác độ như vậy. Tuy nhiên, nội hàm của các khái niệm thuộc lĩnh vực đạo đức trong mỗi thời đại, mỗi chế độ xã hội ít nhiều có sự khác nhau. Chẳng hạn, nghĩa vụ của con người trong cộng đồng xã hội nguyên thuỷ khác với nghĩa vụ của con người trong xã hội chiếm hữu nô lệ; nghĩa vụ của con người trong xã hội chiếm hữu nô lệ khác với nghĩa vụ con người trong xã hội phong kiến; nghĩa vụ của con người trong xã hội phong kiến khác với nghĩa vụ của con người trong xã hội tư bản và cũng khác với nghĩa vụ của con người trong xã hội xã hội chủ nghĩa. Mỗi cá nhân con người sống trong một xã hội cụ thể, luôn phải có trách nhiệm chuyển những đòi hỏi của xã hội thành nhu cầu, mục đích và hứng thú trong mọi hoạt động của mình.
Sự chuyển biến từ yêu cầu của xã hội thành hành vi đạo đức của mỗi cá nhân là việc tuân thủ những nguyên tắc, chuẩn mực mà xã hội ngăn cấm và tích cực hoạt động theo những gì được dư luận xã hội khuyến khích. Yêu cầu của xã hội dần dần thay đổi thì quan hệ và hành vi đạo đức cũng có sự thay đổi tương ứng. Xã hội phát triển thì ý thức, hành vi và quan hệ đạo đức cũng vận động theo xu hướng tích cực tiến bộ và ngày càng giàu ý nghĩa nhân văn hơn. z 10 Hệ thống các giá trị đạo đức hình thành, phát triển và hoàn thiện gắn liền với sự phát triển và hoàn thiện của ý thức đạo đức, trong đó lý tưởng và tấm gương đạo đức của các vĩ nhân ở mỗi thời kỳ đóng vai trò định hướng.
Hệ thống giá trị đạo đức mang tính chất tích cực, tiến bộ khi nó phù hợp với sự phát triển tiến bộ xã hội và thúc đẩy sự phát triển đi lên của xã hội. Quan niệm về đạo đức và các chuẩn mực đánh giá hành vi đạo đức đã được hình thành từ chế độ cộng sản nguyên thuỷ, cũng bắt đầu từ đó, trên cơ sở phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao, các hệ thống đạo đức đã được hình thành, phát triển và hoàn thiện. Chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời, giai cấp xuất hiện đã làm nảy sinh những yếu tố kích thích sự xuất hiện những điều xấu, xuất hiện những động cơ thấp hèn, nạn trộm cắp, tham lam, sự gian trá, ngày càng tăng. Loài người bắt đầu hình thành một nền đạo đức mới phức tạp - đó là nền đạo đức đối kháng trong xã hội có đối kháng giai cấp.
Khởi đầu là sự đối kháng đạo đức của nô lệ với đạo đức của chủ nô, rồi đến đạo đức của nông dân với phong kiến, vô sản với tư sản. Tầng lớp người có đặc quyền, đặc lợi trong xã hội cho phép mình là người “có đức hạnh, người thượng lưu, quý tộc”, còn những người lao động như nô lệ, nông dân, vô sản là những người “không có phẩm hạnh, những người thấp hèn, hạ đẳng”. Dựa vào các thiết chế xã hội, giai cấp thống trị quy định nội dung cơ bản của đạo đức, đẩy tới hai cực đối lập gay gắt là quan hệ chủ - tớ, trên - dưới, mệnh lệnh - phục tùng. Tính chất đó cũng quan hệ với những nội dung khác nhau của quan niệm tốt, xấu trong giai cấp này hay giai cấp kia.
Giai cấp công nhân lên nắm chính quyền, tạo những tiền đề về kinh tế, chính trị, xã hội để người lao động từng bước được giải phóng, trong hoàn cảnh ấy, đã nảy nở một nền đạo đức mới. Đó là đạo đức của giai cấp công nhân - đạo đức cộng sản. Đạo đức cộng sản vừa thể hiện những giá trị, chuẩn z 11 mực, quy tắc ứng xử phù hợp lợi ích của giai cấp công nhân, vừa hàm chứa những nhân tố đạo đức chung của cả loài người. Vì thế, có thể nói, đạo đức cộng sản là giai đoạn cao trên con đường tiến lên của đạo đức nhân loại.
Với tư cách là hình thái ý thức xã hội, đạo đức là toàn bộ tư tưởng, quan điểm về nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội. Đạo đức bao gồm ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức. Ý thức đạo đức là sự thể hiện thái độ nhận thức của con người trước hành vi của mình trong sự đối chiếu với hệ thống chuẩn mực và những quy tắc đạo đức do xã hội đặt ra, giúp con người tự giác điều chỉnh hành vi và hoàn thành nghĩa vụ đạo đức một cách tự nguyện. Ý thức đạo đức bao gồm cả tri thức và tình cảm đạo đức.
Trong đó, tình cảm đạo đức là yếu tố quan trọng góp phần chuyển hoá tri thức thành hành vi đạo đức đúng đắn. Thực tiễn đạo đức là hoạt động của con người dưới sự tác động của niềm tin, là quá trình hiện thực hoá ý thức đạo đức trong đời sống xã hội. Thực tiễn đạo đức là hệ thống các hành vi đạo đức của con người được nảy sinh trên cơ sở chỉ dẫn của ý thức đạo đức. Đạo đức là một dạng của quan hệ xã hội nên bao giờ cũng mang tính xã hội, là đạo đức xã hội; là sự thống nhất biện chứng giữa đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân.
Đạo đức cá nhân là biểu hiện đặc thù của đạo đức xã hội, nhưng không bao hàm hết nội dung của đạo đức xã hội. Đó là đạo đức của từng cá nhân riêng lẻ, phản ánh và khẳng định tồn tại xã hội của các cá nhân về lợi ích và hoạt động của họ. Trong xã hội, mỗi cá nhân tiếp thu đạo đức xã hội khác nhau và tác động, ảnh hưởng trở lại xã hội cũng khác nhau. Còn, đạo đức xã hội là tổng hoà những nhu cầu phổ biến được đúc kết từ những tinh hoa của z 12 đạo đức cá nhân; nó trở thành cái chung của một giai cấp, của một dân tộc, một thời đại nhất định.
Đạo đức xã hội được duy trì, kế thừa, củng cố thông qua phong tục, tập quán, truyền thống, vận động, biến đổi và phát triển thông qua các hoạt động và giao tiếp xã hội. Đạo đức là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố, cả chủ quan lẫn khách quan của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người. Những quan hệ cá nhân với cá nhân, cá nhân với xã hội càng có tính tự giác, càng có tính xã hội rộng lớn thì hoạt động của con người càng mang tính đạo đức. Bởi vì, trong sự tồn tại và phát triển của đời sống cá nhân, mỗi người tự do lựa chọn và sự lựa chọn có trách nhiệm nảy sinh trong quan hệ với cá nhân khác, với xã hội, chấp nhận sự kiểm tra, những yêu cầu của xã hội để nhận được sự đánh giá, sự ủng hộ của xã hội.
Đối với xã hội, những quy tắc, chuẩn mực đạo đức đã đưa ra, yêu cầu mỗi cá nhân điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích chung của xã hội. Lịch sử xã hội loài người trải qua năm hình thái kinh tế - xã hội và tương ứng là có năm hình thái đạo đức, nhưng đối với mỗi dân tộc bước tiến lịch sử đó cũng biểu hiện rất khác nhau. Sự khác nhau đó là do sự phát triển của phương thức sản xuất, do hoàn cảnh địa lý, dân số cũng hoàn toàn khác biệt với dân tộc khác. Tồn tại xã hội có sự thể hiện khác nhau thì ý thức xã hội nảy sinh trên đó và do nó quy định cũng khác nhau.
Vì vậy, khi nghiên cứu bản chất đạo đức ta cũng phải thấy rõ sự biểu hiện của nó một cách phong phú trong tính chất dân tộc. Hơn nữa, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội và bị quy định bởi tồn tại xã hội, nhưng nó cũng có tính độc lập tương đối của nó; nghĩa là, giữa các hình thái ý thức xã hội cũng có sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau. Vì vậy, ý thức đạo đức cũng chịu sự tác động và ảnh hưởng của các hình thái ý thức xã hội khác như ý thức chính trị, ý thức pháp luật, ý thức triết học, ý thức tôn giáo. Tổng hoà những nhân tố khác biệt z 13 quy định đó, tạo ra bản sắc đạo đức riêng của mỗi dân tộc.
Ăng ghen viết: “Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện và ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau” [29, tr. Tính dân tộc là một biểu hiện bản chất xã hội của đạo đức. Các quan niệm, chuẩn mực đạo đức của mỗi dân tộc do điều kiện kinh tế - xã hội và sự tác động của các hình thái ý thức xã hội khác quy định, nhưng khi đã được hình thành nó lại trở thành phong tục, tập quán và truyền thống đạo đức của mỗi cộng đồng dân tộc, tiếp tục chi phối sự phát triển của đạo đức dân tộc. Trong tiến trình phát triển của xã hội loài người đã hình thành những giá trị đạo đức mang tính toàn nhân loại, tồn tại trong mọi xã hội và ở các hệ thống đạo đức khác nhau.
Tính nhân loại của đạo đức tồn tại ở hình thức thấp là biểu hiện ở những quy tắc đơn giản nhằm điều chỉnh hành vi con người, cần thiết cho việc giữ gìn trật tự xã hội và sinh hoạt thường ngày của mỗi người. Chẳng hạn, những quy tắc, chuẩn mực đạo đức như thương yêu chăm sóc ông, bà, bố mẹ, con trẻ, tôn trọng của công, thì xã hội nào cũng có. Tuy nhiên, không thể thổi phồng, tuyệt đối hoá tính nhân loại của đạo đức để đi đến quan niệm về đạo đức một cách trừu tượng, phi giai cấp, phi lịch sử.