Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Quan niệm chung về công chức 1. Công chức và công chức cấp xã Khái niệm công chức thường được hiểu khác nhau giữa các quốc gia, bị chi phối bởi các yếu tố như hệ thống thể chế chính trị, tổ chức bộ máy nhà nước, yếu tố văn hóa, lịch sử. Do đặc điểm cấu trúc của hệ thống chính trị nước ta, quan niệm về công chức ở Việt Nam cũng có những nét đặc thù.
Trước đây, trong một số nghị quyết của Đảng cũng như một số văn bản pháp quy, mặc dù chưa đưa ra được định nghĩa rõ ràng nhưng đã có đề cập đến khái niệm về công chức. Ở nước ta, khái niệm công chức được hình thành, phát triển gắn với sự phát triển của nền HCNN. Khái niệm công chức được đề cập đến đầu tiên là tại Sắc lệnh số 76/SL ngay 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Quy chế công chức. Theo Quy chế này, khái niệm công chức được xác định trong phạm vi các cơ quan chính phủ.
Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài từ đâu những năm 1960 đến cuối những năm 1980 thì khái niệm công chức lại ít được sử dụng mà thay vào đó là khái niệm cán bộ, công nhân viên nhà nước. Đến năm 1998, khi Pháp lệnh Cán bộ, công chức ra đời, cụm từ “cán bộ, công chức” được gọi chung cho những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, nhà nước, đoàn thể. Tuy nhiên, vấn đề ai là “cán bộ”, ai là “công chức” vẫn chưa được phân biệt. Pháp lệnh Cán bộ công chức sửa đổi, bổ sung năm 2003 tuy có phân định rõ hơn các đối tượng cán bộ công chức trong pháp lệnh này như: Cán bộ công chức hành chính; cán bộ viên chức sự nghiệp, CB, CC xã, phường, thị trấn và công chức dự bị.
Tuy vậy nhưng thuật ngữ “cán bộ” và “công chức” vẫn được dùng chung mà chưa có sự tách bạch về 8 ranh giới để phân biệt thế nào là cán bộ và thế nào là công chức. Có chăng, trong Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ đã gọi tắt cán bộ công chức làm việc trong các đon vị sự nghiệp của Nhà nước là viên chức và Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ đã gọi tắt là cán bộ công chức làm việc trong các cơ quan Nhà nước là công chức. Nhưng như thế, cách gọi này không giải quyết được rõ thuật ngữ “cán bộ”, “công chức”, “viên chức”. Hiện nay, Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ban hành ngày 13 tháng 11 năm 2008 của Quốc Hội đã nêu rõ khái niệm về cán bộ, công chức, viên chức, trong đó: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Bên cạnh đó, tại Khoản 3, điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã định nghĩa rằng: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Theo đó, Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động 9 không chuyên trách ở cấp xã; Nghị định 112/2011/NĐ- CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 về công chức xã, phường, thị trấn và Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 đã quy định công chức cấp xã bao gồm những đối tượng sau: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội. Đặc điểm của công chức cấp xã Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cấp xã là cấp gần gũi với dân nhất, là nền tảng của hành chính; cấp xã làm được thì mọi việc đều xong xuôi” [29, tr.371- 372] Công chức cấp xã có những đặc điểm chung sau: - Công chức cấp xã là đội ngũ gần dân, sát dân nhất, trực tiếp triển khai các chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước đến với nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân. Họ chịu sự giám sát của nhân dân một cách trực tiếp, vừa tham gia công tác vừa sản xuất, kinh doanh, gắn với lợi ích gia đình, dòng họ, có quan hệ xóm giềng sâu rộng.
Điều này, giúp cho công chức cấp xã hiểu dân, thông thạo phong tục, tập quán, tâm lý của nhân dân và họ có điều kiện thuận lợi trong việc vận động, thuyết phục nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước. - Công chức cấp xã được tuyển dụng và xếp lương theo ngạch, bậc. Mỗi ngạch được tiêu chuẩn hóa riêng biệt, gắn liền với đặc điểm và yêu cầu của từng vị trí công việc cụ thể theo trình độ đào tạo. - Đối với công chức Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã và Trưởng Công an xã: ngoài những tiêu chuẩn quy định chung của công chức cấp xã, còn phải có khả năng phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số nhiệm vụ phòng thủ dân sự; giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn 10 xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước.
- So với cán bộ chuyên trách cấp xã thì đội ngũ công chức cấp xã có tính ổn định tương đối và có tính chuyên môn hóa cao. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, thu nhập chính của công chức xã không phải từ lương mà là từ kết quả sản xuất kinh doanh của gia đình họ. - Công chức cấp xã là những người tham mưu trực tiếp cho UBND cấp xã, do vậy, họ là những người hoạt động trong lĩnh vực tham mưu quản lý, điều hành các hoạt động của địa phương. - Đội ngũ công chức cấp xã đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và là lực lượng chiếm số lượng hết sức đông đảo trong tổng số biên chế hiện nay.
Chính vì vậy, việc xác định rõ đặc điểm, vị trí, vai trò của công chức cấp xã là vấn đề cần thiết để có chủ trương, chính sách phù hợp. - Công chức cấp xã là những người trực tiếp giải quyết tất cả các yêu cầu, quyền lợi chính đáng từ nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Vị trí, vai trò của công chức cấp xã Công chức cấp xã có một vị trí, vai trò hết sức quan trọng, là chủ thể thực thi pháp luật để quản lý mọi mặt của đời sống xã hội nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước đề ra; giữ gìn trật tự kỷ cương xã hội, bảo vệ lợi ích của các tầng lớp nhân dân lao động; điều hành các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong quá trình hoạt động của bộ máy nhà nước. Đội ngũ công chức cấp xã là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền với nhân dân, thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương theo thẩm quyền được phân cấp, đảm bảo cho các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà 11 nước, được triển khai thực hiện trong cuộc sống.
Có thể nói, công chức cấp xã là cầu nối quan trọng nhất giữa Đảng, nhà nước với nhân dân. Với vị trí là “nền tảng cơ sở”, vai trò của đội ngũ công chức cấp xã được thể hiện dưới những phương diện: - Một là, công chức cấp xã là những người trực tiếp đem chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Ở đây, vị trí, vai trò của đội ngũ công chức cấp xã là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ với quần chúng nhân dân, là người giữ vai trò quyết định trong việc hiện thực hoá sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội ở cơ sở, quyết định trong việc quán triệt, tổ chức thực hiện mọi quyết định của cấp trên và mọi chủ trương, kế hoạch, sự chỉ đạo của chính quyền xã. - Hai là, đội ngũ công chức cấp xã gần dân có vai trò trực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự xã hội, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật.
Do vậy, công chức cấp xã giữ vai trò quyết định trong việc xây dựng và thúc đẩy phong trào cách mạng của quần chúng ở cơ sở. - Ba là, công chức cấp xã là người giải quyết các yêu cầu chính đáng của nhân dân đồng thời là người nắm bắt kịp thời, phản ánh đầy đủ các tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để Đảng, Nhà nước có cơ sở khoa học sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các chủ trương, chính sách có tính khả thi, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Tiêu chuẩn, yêu cầu đối với công chức cấp xã Kết quả hoạt động công vụ phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng đội ngũ công chức. Chất lượng đội ngũ công chức được hình thành trên cơ sở tiêu chuẩn công chức và chịu ảnh hưởng của các nội dung quy định trong tiêu chuẩn công chức.
Tiêu chuẩn công chức là một hệ thống các yêu cầu về phẩm chất năng 12 lực, trình độ cần phải có để đảm đương và hoàn thành tốt nhiệm vụ do cương vị công tác đòi hỏi.