Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về công chức tƣ pháp – hộ tịch cấp xã. Chương 2: Thực trạng chức năng, nhiệm vụ của công chức tƣ pháp – hộ tịch cấp xã tại Hiệp Thuận, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của công chức tƣ pháp – hộ tịch cấp xã. 7 z Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CÔNG CHỨC TƢ PHÁP - HỘ TỊCH CẤP XÃ 1.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò, tiêu chuẩn của công chức tƣ pháp – hộ tịch cấp xã 1. Khái niệm công chức Thuật ngữ “Công chức” có thể nói đã xuất hiện từ khá lâu và lịch sử khá lâu dài, từ thời kỳ phong kiến Trung Quốc đội ngũ công chức manh nha hình thành, bắt đầu bằng các học thuyết về tổ chức nhà nƣớc và Nho giáo của Khổng Tử và đƣợc áp dụng chặt chẽ hơn, nâng lên thành thiết chế dƣới thời của Hán Vũ Đế thuộc triều Hán vào khoảng thế kỷ thứ III Công nguyên (206- 220 CN) thời này với học thuyết Nho giáo thịnh hành, tổ chức chính quyền của Trung Hoa phong kiến đã chia thành 06 bộ (Lục bộ) nhƣ Bộ binh, Bộ hình, Bộ lại, Bộ lễ, Bộ công, Bộ hộ và mô hình này ảnh hƣởng đến nhiều nƣớc nhƣ Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản. Đến thế kỷ thứ XVI thì hệ thống công chức bắt đầu hình thành và phát triển ở châu Âu phong kiến. Tuy nhiên thuật ngữ công chức chính thức đƣợc ra đời tại nƣớc Anh trong thế kỷ XIX (năm 1847) [24].
Thuật ngữ “Công chức” ở Việt Nam đã đƣợc sử dụng đầu tiên trong Sắc lệnh số 76/SL của Chủ tịch nƣớc nƣớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà Số 76/SL ngày 20/5/1950. Theo Sắc lệnh: Những công Dân Việt Nam đƣợc chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nƣớc, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trƣờng hợp riêng biệt do Chính phủ định. 8 z Đến Nghị định của Hội đồng Bộ trƣởng số 169-HĐBT ngày 25/5/1991 về công chức nhà nƣớc quy định: Công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thƣờng xuyên trong một công sở của Nhà nƣớc ở Trung ƣơng hay địa phƣơng; ở trong nƣớc hay ngoài nƣớc; đã đƣợc xếp vào một ngạch, hƣởng lƣơng do ngân sách Nhà nƣớc cấp gọi là công chức Nhà nƣớc. Pháp lệnh Cán bộ công chức năm 1998 đƣa ra khái niệm chung về cán bộ, công chức, và Nghị định số 95/1998/NĐCP của Chính phủ ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức đƣa ra khái niệm về công chức.
Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008 đƣa ra khái niệm chi tiết về công chức nhƣ sau: Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [29]. 9 z Chức danh công chức cơ sở: Trƣởng công an (nơi chƣa bố trí lực lƣợng công án chính quy); Chỉ huy trƣởng quân sự Văn phòng – thống kê; Địa chính – xây dựng – đô thị - môi trƣờng (đối với phƣờng, thị trấn), địa chính - xây dựng – nông nghiệp – môi trƣờng (đối với xã); Tài chính – kế toán; Tƣ pháp – hộ tịch; Văn hóa – xã hội. Đây là nhóm ngƣời đƣợc tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã. Trong điều kiện hiện nay, làm việc ở cấp cơ sở còn có một lực lƣợng lao động đặc biệt.
Đó là những “công chức dự bị” của các cấp cao hơn đƣợc đƣa về làm việc tại cơ sở. Khái niệm công chức tư pháp – hộ tịch Thuật ngữ “Tƣ pháp” đƣợc bắt nguồn từ thuật ngữ “Juristice” theo chữ Latinh, có thể hiểu là “công lý” hay “nền công lý”. Tƣ pháp đƣợc quan niệm nhƣ là một ý tƣởng cao đẹp về nền công lý, việc giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn trong xã hội phải đúng pháp luật, hợp lẽ công bằng và các chuẩn mực khác. Tƣ pháp cũng có thể hiểu là “nền tƣ pháp” mà ở đó bao gồm cả hệ thống pháp luật và các thiết chế nhằm duy trì, bảo đảm việc thi hành một cách nghiêm minh hệ thống pháp luật đó, phát huy hiệu quả thực tế của chúng trong đời sống xã hội.
Tƣ pháp theo nghĩa Hán - Nôm là “gìn giữ pháp luật” hay “bảo vệ pháp luật”. Tƣ pháp đƣợc coi là một lĩnh vực tổ chức và hoạt động đặc biệt của Nhà nƣớc nhằm duy trì an ninh, an toàn và công bằng xã hội. Nói cách khác, tƣ pháp có nhiệm vụ duy trì và bảo vệ công lý. Vào thời kỳ trƣớc năm 1975, lần đầu tiên thuật ngữ “Hộ tịch” đƣợc tác giả Phan Văn Thiết đƣa ra nhƣ sau: “Hộ tịch – còn gọi là nhân thế bộ - là cách sinh hợp pháp của một công dân trong gia đình và trong xã hội.
Hộ tịch căn cứ vào ba hiện tƣợng quan trọng nhất của con ngƣời: sinh, giá thú và tử” [34]. Theo tác giả Vũ Văn Mẫu – Lê Đình Chân đƣa ra một định nghĩa khác: 10 z “Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các ngƣời trong nhà. Hộ tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh và khải tử” [25]. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, định nghĩa hộ tịch đƣợc đƣa ra tại Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch, đến Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch nhƣ sau: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một ngƣời từ khi sinh ra đến khi chết đi”.
Đồng thời Luật Hộ tịch năm 2014 còn nêu thêm khái niệm “đăng ký hộ tịch” nhƣ sau: 1. Hộ tịch là những sự kiện đƣợc quy định tại Điều 3 của Luật này, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết. Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nƣớc bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cƣ [31]. Trong thời kỳ sau cách mạng tháng 8 Chính phủ ban hành lần lƣợt Sắc lệnh 63/SL cho đến năm 1998, đội ngũ thực hiện công tác tƣ pháp và công tác hộ tịch tại cấp xã đƣợc gọi chung là Ban Tƣ pháp.
Thuật ngữ “Cán bộ hộ tịch tƣ pháp” xuất hiện đầu tiên tại Nghị định 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch. Nghị định của Chính phủ số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về Cán bộ, công chức xã, phƣờng, thị trấn quy định về công chức đƣợc tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã trong đó có CCTP-HT. Kể từ sau đó, trong các văn bản pháp luật của Nhà nƣớc ta đều thống nhất sử dụng chung thuật ngữ CCTP-HT. Sự ra đời của thuật ngữ CCTP-HT là việc sử dụng đồng thời lồng ghép giữa các chức danh của công chức làm công tác tƣ pháp và công tác hộ tịch, trên cơ sở sử dụng cùng lúc hai công tác trên cho ra đời chức danh CCTP-HT 11 z thì nhà nƣớc có thể áp dụng chung chế độ và chính sách cho cùng 1 chức danh công chức nhằm tinh giản bộ máy hành chính ở địa phƣơng.
Nhƣng trong thực tế thì đây là hai công tác hoàn toàn khác nhau, công tác tƣ pháp mang tính chất hành chính trật tự, còn công tác hộ tịch đòi hỏi sự ổn định, thƣờng xuyên, liên tục và chuyên môn cao. CCTP-HT tại các xã, phƣờng, thị trấn là những ngƣời chăm lo mọi việc pháp lý liên quan đến quyền lợi của ngƣời dân trong suốt vòng đời sinh tử của họ, từ việc lấy vợ, lấy chồng, sinh con, nuôi con, giao dịch nhà đất, hòa giải các tranh chấp nhỏ trong đời sống ở thôn, làng. Từ những quy định của pháp luật về công chức, nội dung về tƣ pháp, hộ tịch, có thể hiểu: CCTP-HT cấp xã được hiểu như là công chức cấp xã, giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong đăng ký và quản lý hộ tịch. Đối với những xã, phường, thị trấn có đông dân cư, số lượng công việc hộ tịch nhiều, thì phải có cán bộ chuyên trách làm công tác hộ tịch, không kiêm nhiệm các công tác tư pháp khác.
Đặc điểm, vai trò, tiêu chuẩn của công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã Với vị trí là một bộ phận của công tác quản lý nhà nƣớc, CCTP-HT cấp xã chủ yếu quản lý các hoạt động phát sinh trong phạm vi ở cơ sở và tham mƣu cho chủ tịch UBND cấp xã về lĩnh vực tƣ pháp theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khối lƣợng công việc lớn và không ngừng gia tăng do sự gia tăng dân số và tính chất ngày càng phức tạp của các quan hệ xã hội. Với vị trí là cấp cơ sở gần dân nhất so với chính quyền cấp huyện và tỉnh, tƣ pháp cấp xã không chỉ trực tiếp triển khai và thực hiện các chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nƣớc về công tác tƣ pháp và đăng ký hộ tịch mà còn là bộ phận tƣơng tác trực tiếp với quyền và lợi ích của ngƣời dân, thể hiện sự công bằng của pháp luật, quyền làm chủ của nhân dân, đánh giá tính 12 z hiệu quả và phù hợp của các chính sách pháp luật. Chủ trƣơng, đƣờng lối, chƣơng trình, kế hoạch công tác của cơ quan tƣ pháp cấp trên chỉ đƣợc thực hiện khi đƣợc triển khai chất lƣợng và hiệu quả tại cấp xã.