ĐẶT VẤN ĐỀ Tương tác thuốc là một nguyên nhân dẫn đến việc tăng tỷ lệ nhập viện, kéo dài thời gian, tăng chi phí điều trị gây ảnh hưởng xấu tới tâm lý, sức khỏe, kinh tế của người bệnh cũng như gây nên sự quá tải cho đội ngũ cán bộ y tế [1], [3], [14]. Hiện nay có nhiều cơ sở dữ liệu tra cứu để phát hiện, ngăn ngừa và xử trí tương tác thuốc, tuy nhiên việc tra cứu, lựa chọn mất nhiều thời gian vì vậy cần có một danh mục cụ thể sẵn sàng có tại bệnh viện để đáp ứng tốt trong chăm sóc y tế. Bệnh viện đa khoa Thanh Hà, tỉnh Thanh Hóa là một bệnh viện đa khoa hạng III có mô hình bệnh tật đa dạng. Bệnh viện có gần 300 giường bệnh, thực hiện khám chữa bệnh cho nhân dân trong tỉnh.
Việc phối hợp nhiều thuốc là tất yếu không tránh khỏi nên nguy cơ xảy ra tương tác thuốc bất lợi là rất cao. Do đó, tương tác thuốc luôn được quan tâm và cần kiểm soát chặt chẽ. Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài "Xây dựng danh mục tương tác thuốc bất lợi cần chú ý trong thực hành lâm sàng tại Bệnh viện đa khoa Thanh Hà, tỉnh Thanh Hóa" với ba mục tiêu sau: - Mục tiêu 1: Xây dựng danh mục tương tác thuốc bất lợi cần chú ý dựa trên lý thuyết từ danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện đa khoa Thanh Hà năm 2021. - Mục tiêu 2: Xây dựng danh mục tương tác thuốc bất lợi cần chú ý qua khảo sát bệnh án nội trú năm 2021.
- Mục tiêu 3: Xây dựng danh mục tương tác thuốc bất lợi cần chú ý trong thực hành lâm sàng tại Bệnh viện đa khoa Thanh Hà thông qua tổng hợp danh mục tương tác thuốc bất lợi thu được ở mục tiêu 1 và 2. Chúng tôi hy vọng đề tài này sẽ góp phần kiểm soát được phần lớn các biến cố bất lợi do tương tác thuốc gây ra, từ đó, góp phần sử dụng thuốc một cách hiệu quả, an toàn, hợp lý cho bệnh nhân. Đại cương về tương tác thuốc 1. Khái niệm tương tác thuốc Tương tác thuốc là sự thay đổi tác dụng của một thuốc khi được sử dụng đồng thời với thuốc khác, dược liệu, thức ăn, đồ uống hoặc hóa chất khác [1], [3], [16].
Có nhiều dạng tương tác thuốc khác nhau: tương tác thuốc – thuốc, tương tác thuốc – thức ăn, tương tác thuốc – dược liệu, tương tác thuốc – tình trạng bệnh lý, tương tác thuốc – xét nghiệm… [1], [2], [3], [4]. Trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ đề cập đến tương tác thuốc – thuốc. Tương tác thuốc - thuốc là tương tác xảy ra khi nhiều thuốc được sử dụng đồng thời [3]. Ví dụ, phối hợp ketorolac với 1 NSAID làm tăng nguy cơ xuất huyết tiêu hóa nghiêm trọng.
Đa phần tương tác thuốc dẫn đến tác dụng bất lợi, gây hại trên bệnh nhân, tuy nhiên, vẫn có tương tác mang lại lợi ích và được ứng dụng trong điều trị như phối hợp một thuốc hạ huyết áp và một thuốc lợi tiểu để đạt hiệu quả tốt hơn trong điều trị [16], [24]. Trong phạm vi đề tài, chúng tôi chỉ đề cập đến tương tác thuốc bất lợi. Phân loại tương tác thuốc Tương tác thuốc được phân loại thành hai nhóm dựa trên cơ chế của tương tác, bao gồm tương tác dược động học và tương tác dược lực học [1], [3], [13]. Tương tác dược động học Tương tác dược động học là tương tác tác động lên các quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa, thải trừ của thuốc trong cơ thể.
Từ đó, dẫn đến sự thay đổi nồng độ của thuốc trong huyết tương, làm thay đổi tác dụng dược lý hoặc độc tính của thuốc. Tương tác dược động học là loại tương tác xảy ra trong suốt quá trình tuần hoàn của thuốc trong cơ thể, khó đoán trước và không liên quan đến cơ chế tác dụng của thuốc [1], [3]. Tương tác dược lực học Tương tác dươc lực học là khi một thuốc gây ảnh hưởng tới đáp ứng sinh học hoặc tới độ nhạy cảm của mô trong cơ thể khi dùng cùng môt thuốc khác. Những thuốc gặp tương tác này sẽ có tác dụng đối kháng hoăc hiệp đồng với nhau 2 Tương tác dược lực học là loại tương tác đặc hiệu, có thể biết trước dựa vào tác dụng dược lý và phản ứng có hại của thuốc.
Các thuốc có cùng cơ chế tác dụng sẽ có cùng kiểu tương tác dược lực học [1], [3]. Các yếu tố ảnh hưởng đến tương tác thuốc • Yếu tố thuộc về bệnh nhân - Tình trạng bệnh lý [19], [24]: + Một số tình trạng bệnh lý của bệnh nhân có thể làm cho bệnh nhân có nguy cơ cao gặp tương tác thuốc: bệnh về tim mạch (loạn nhịp, suy tim sung huyết), , tăng lipid máu, đái tháo đường, động kinh, bệnh lý tiêu hóa (loét đường tiêu hóa, chứng khó tiêu), bệnh về gan, suy chức năng tuyến giáp, bệnh tâm thần, suy giảm chức năng thận, bệnh hô hấp (hen, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính), bệnh nấm, bệnh nhiễm HIV,. + Một số bệnh lý cần điều trị nhiều thuốc bắt buộc bệnh nhân phải sử dụng để đạt hiệu quả điều trị dẫn đến dễ xảy ra tương tác thuốc: như bệnh lao, động kinh hay bệnh tâm thần, bệnh suy tim sung huyết, hội chứng AIDS. Trong khi đó, nhiều thuốc dùng trong điều trị bệnh nhân lao, điều trị bệnh nhân mắc hội chứng AIDS và chống động kinh lại có khả năng ức chế hay cảm ứng enzym chuyển hóa cũng dễ gây ra tương tác với các thuốc khác.
+ Một số bệnh lý phải thuốc có khoảng điều trị hẹp cho bệnh nhân phải sử dụng: ví dụ như bệnh lý đái tháo đường dùng insulin, dẫn chất sulfonylure đường uống. - Yếu tố di truyền [19], [23], [24], [25]: Yếu tố di truyền đóng vai trò quyết định tốc độ của enzym trong quá trình chuyển hóa thuốc, trong đó hệ chuyển hóa quan trọng nhất là cytocrom P450. Bệnh nhân có enzym chuyển hóa thuốc chậm thường có ít nguy cơ gặp tương tác thuốc hơn bệnh nhân có enzym chuyển hóa thuốc nhanh. - Đối tượng bệnh nhân đặc biệt [2], [19], [24], [25]: Những đối tượng bệnh nhân đặc biệt như trẻ sơ sinh, trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ có thai và cho con bú, dược động học của thuốc có sự khác biệt dẫn đến nguy cơ xảy ra tương tác cao hơn đối tương bệnh nhân bình thường.
Trẻ em dưới 1 tuổi và trẻ sơ sinh chưa hoàn thiện về mặt chức năng về nhiều cơ quan trong cơ thể. Bệnh nhân cao tuổi có những thay đổi nhiều do suy giảm chức năng các cơ quan như gan, thận. Bệnh nhân béo phì hoặc 3 suy dinh dưỡng thường có sự thay đổi mức độ chuyển hóa enzym vì thế đối tượng này nhạy cảm hơn và dễ bị ảnh hưởng bởi tương tác thuốc hơn. Những đối tượng có nguy cơ cao gặp phải tương tác thuốc khác là những, bệnh nhân mắc bệnh tự miễn, bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật ghép cơ quan, bệnh nhân nặng.
- Bệnh nhân tự ý dùng thuốc: Việc bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc điều trị (các thuốc không cần kê đơn (OTC), dược liệu hoặc các thuốc y học cổ truyền) nhưng không đề cập cho bác sĩ cũng có thể làm tăng nguy cơ gặp tương tác thuốc. • Yếu tố thuộc về thuốc - Số lượng thuốc điều trị [3], [24], [29]: Nhiều bệnh đòi hỏi bệnh nhân buộc phải dùng nhiều thuốc để đạt được hiệu quả điều trị mong muốn. Số lượng thuốc bệnh nhân sử dụng càng tăng thì bệnh nhân càng có nguy cơ cao gặp phải tương tác thuốc bất lợi, tần suất tương tác thuốc 3 - 5% khi dùng vài thuốc và tới 20% khi dùng 10 - 20 thuốc. Số tương tác thuốc tăng theo số thuốc phối hợp trong đơn thuốc, số tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng tăng từ 34% khi bệnh nhân dùng 2 thuốc lên tới 82% khi dùng trên 7 thuốc.
- Liều lượng, đặc tính của thuốc [24]: Nhiều tương tác thuốc xảy ra phụ thuộc nồng độ của thuốc trong máu, do đó, liều dùng và tính chất dược động học của thuốc quyết định đến việc xảy ra tương tác và hậu quả của tương tác đó. - Thuốc có khoảng điều trị hẹp [19], [24]: Một số tình trạng bệnh lý đòi hỏi sử dụng các thuốc có khoảng điều trị hẹp. Thuốc có khoảng điều trị hẹp có khoảng cách giữa liều có hiệu quả điều trị và liều gây độc tính nhỏ, điều này dẫn đến nếu có sự thay đổi về liều lượng thuốc dù nhỏ hoặc xảy ra tương tác với một thuốc khác thì có thể gây ra tác dụng có hại. Ví dụ digoxin, cyclosporin, kháng sinh aminoglycosid, thuốc chống đông, thuốc điều trị loạn nhịp tim (quinidin, lidocain, procainamid), những thuốc điều trị HIV, những thuốc điều trị động kinh (carbamazepin, phenytoin, acid valproic) và thuốc điều trị đái tháo đường (dẫn chất sulfonylure đường uống, insulin).
• Yếu tố thuộc về cán bộ y tế - Chất lượng kê đơn: Do khối lượng công việc quá tải, số lượng bệnh nhân quá đông 4 ảnh hưởng một phần đến chất lượng kê đơn của bác sĩ, việc gặp phải tương tác bất lợi là không thể tránh khỏi nếu không nắm bắt kịp thời các nguồn thông tin về tương tác thuốc. - Số lượng Bác sỹ điều trị [19], [24]: Khi bệnh nhân mắc cùng lúc nhiều bệnh và được điều trị bởi nhiều bác sỹ, mỗi bác sỹ có thể không rà soát đầy đủ thông tin về những thuốc bệnh nhân đã được kê đơn hoặc đang sử dụng. Điều này có thể dẫn đến những tương tác thuốc nghiêm trọng không được kiểm soát. Dịch tễ của tương tác thuốc Các nghiên cứu khác nhau cho báo cáo tỷ lệ xuất hiện tương tác thuốc thường rất khác nhau.
Dẫn đến sự khác biệt này có nhiều yếu tố góp phần, như đối tượng nghiên cứu (bệnh nhân nội trú hay ngoại trú; bệnh nhân trẻ tuổi hay cao tuổi), phương pháp nghiên cứu (tiến cứu hay hồi cứu), cỡ mẫu nghiên cứu, tính đa dạng trong tiêu chí thu thập dữ liệu (tất cả tương tác thuốc hay chỉ những tương tác nghiêm trọng). Nghiên cứu được thực hiện tại Anh cũng cho thấy tới 51,9% biến cố có hại trong điều trị cho bệnh nhân là do tương tác thuốc [17]. Một nghiên cứu tại hai bệnh viện đại học ở Croatia trên bệnh nhân nội trú lại cho thấy tỷ lệ gặp tương tác thuốc tiềm tàng lên đến 46%, phần lớn các tương tác ở mức độ trung bình và nghiêm trọng (56% tương tác ở mức độ trung bình, 33% tương tác ở mức độ nghiêm trọng) [21]. Trong nghiên cứu tiến cứu của Pirmohamed và cộng sự trên 1.225 bệnh nhân nhập viện (trong tổng số 18.