Chương 1 TỔNG QUAN 1. Khái niệm, lịch sử phát triển y tế trường học 1. Khái niệm về y tế trường học 1. Trên Thế giới Hiện nay có một số khác biệt về định nghĩa của chương trình YTTH.
Theo Tổ chức y tế thế giới, YTTH hay trường học nâng cao sức khỏe là “trường học trong đó cả lời nói và việc làm đều có những hoạt động hỗ trợ và cam kết thúc đẩy sức khỏe toàn diện cho tất cả mọi thành viên trong cộng đồng nhà trường từ tình cảm, xã hội, thể chất đến các vấn đề đạo đức” 8, 9 Theo định nghĩa của Viện thuộc ủy ban y tế về các chương trình YTTH từ lớp mẫu giáo tới lớp 12 của Hoa Kỳ: Một chương trình y tế trường học là việc hợp nhất về kế hoạch, tính liên tục, sự phối hợp trong việc xây dựng các hoạt động và các dịch vụ nhằm nâng cao thể chất, tinh thần, hiệu quả học tập cùng khả năng hòa nhập xã hội tốt nhất cho các học sinh. Chương trình hoạt động phải thu hút được sự ủng hộ từ gia đình, cộng đồng. Các mục tiêu hoạt động được đặt ra dựa trên các nhu cầu, đòi hỏi, các tiêu chí và nguồn lực từ cộng đồng của địa phương 10. Trên thế giới, thuật ngữ trường học nâng cao sức khỏe (NCSK) được sử dụng ở các nước châu Âu, châu Á khu vực Thái Bình Dương và châu Mỹ Latinh.
Thuật ngữ này được sử dụng có nghĩa tương tự như các thuật ngữ: Chương trình y tế trường học (school health program) 11, chương trình Y tế trường học phối hợp (coordinated school health programs) 12, trường học khỏe mạnh (healthy schools), nâng cao sức khỏe trường học (school health promotion), trường học nâng cao sức khỏe (health promoting schools) 13, 14, 15, 16, 17 và y tế trường học toàn diện (comprehensive school health). Khái niệm này mô tả cách tiếp cận toàn diện (comprehensive approach) có sự phối hợp liên ngành nhằm nâng cao sức khỏe, phát triển xã hội và giáo dục thông qua trường học 18, 12, 19, 20. Tại Việt Nam Tại Việt Nam, có nhiều thuật ngữ về YTTH được sử dụng như y tế học đường, vệ sinh trường học, sức khỏe học đường, sức khỏe trường học 21, 22, 9 và trường học nâng cao sức khỏe 23. Tuy nhiên, văn bản chính thức thống nhất về tên gọi y tế trường học để dễ sử dụng.
Tại Việt Nam, Bộ y tế đưa ra khái niệm về YTTH học như sau: - YTTH là một hệ thống các phương pháp, biện pháp can thiệp nhằm bảo vệ, nâng cao sức khoẻ học sinh, biến các kiến thức khoa học thành các kỹ năng thực hành trong mọi hoạt động sống của lứa tuổi học đường 10. - YTTH là một lĩnh vực thuộc chuyên ngành y học dự phòng nghiên cứu tác động của điều kiện sống, sinh hoạt và học tập đến sức khỏe học sinh, trên cơ sở đó xây dựng và triển khai các biện pháp can thiệp phù hợp nhằm bảo vệ và nâng cao sức khoẻ, đảm bảo các điều kiện thuận lợi cho các em học sinh phát triển một cách toàn diện 10. Tóm lược lịch sự phát triển y tế trường học 1. Trên thế giới Từ thế kỷ thứ 19, tại nhiều nước Châu Âu đã có chủ trương và các phương pháp thực hiện YTTH.
Các nhà nghiên cứu đã bắt đầu đưa ra những tiêu chuẩn vệ sinh về YTTH và chú ý tập trung vào phạm vi thiết kế xây dựng trường sở phải đảm bảo các điều kiện này. Năm 1864 Giáo sư Herman Cohn đã nghiên cứu về sự tăng nhanh bệnh cận thị trong trường học có liên quan đến chiếu sáng. Năm 1877 Giáo sư Babinski đã cho xuất bản cuốn sách về vệ sinh học đường 24. Những năm cuối thế kỷ 19 hệ thống YTTH đã được hình thành, phát triển ở các nước Châu Âu, các trường học đã có bác sỹ hoặc y tá học đường và được giao nhiệm vụ tổ chức khám sức khoẻ định kỳ, khám chuyên khoa, phòng chống dịch bệnh trong nhà trường và tổ chức quản lý công tác tiêm phòng vắc xin.
Đến đầu thế kỷ 20 sự cộng tác chặt chẽ giữa bác sỹ học đường và các cơ sở YTTH đã đánh dấu một bước phát triển tiến bộ theo đường lối dự 5 phòng, mục đích là cải tạo những điều kiện không thuận lợi ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ học sinh, phòng bệnh tích cực thông qua việc cải thiện môi trường học tập có lợi cho sức khoẻ. Nhiều nghiên cứu về vấn đề sức khoẻ trẻ em gắn với môi trường học đường đã được các nhà nghiên cứu quan tâm triển khai. Năm 1960 các nhà khoa học đã phát hiện hiện tượng "Gia tốc" phát triển cơ thể trẻ em lứa tuổi học đường về chiều cao và cân nặng so với trẻ cùng lứa tuổi ở các thập kỷ trước đó. Một loạt các giả thuyết của các nhà khoa học được đưa ra nghiên cứu để giải thích hiện tượng này như: Thuyết phát quang của Kock cho là trẻ em được tiếp xúc với ánh sáng và thiên nhiên nhiều hơn; thuyết dinh dưỡng của Lenz; thuyết bức xạ của Treiber; thuyết chọn lọc của Bennhold Thomson; thuyết thành thị hoá của Rudder.
Nhiều công trình nghiên cứu về tiêu chuẩn xây dựng trường lớp, tiêu chuẩn chiếu sang và trang thiết bị đồ dùng học tập giảng dạy sao cho có lợi cho sức khoẻ học sinh. Những nghiên cứu về sự mệt mỏi của trẻ em trong học tập như nghiên cứu của Edith Ockel năm 1973 về gánh nặng của trẻ em trong học tập đã được chú ý 24. Năm 1981 tác giả Verner Kneist thuộc Viện vệ sinh xã hội Cộng hoà dân chủ Đức đã công bố mô hình xây dựng YTTH với việc xác định rõ nhiệm vụ của thầy thuốc học đường và mối liên quan với các tổ chức xã hội 24. Các mô hình trường học cùng với mô hình YTTH cũng đã được thiết lập tuy nhiên cũng chỉ tập trung giải quyết một vấn đề hoặc một vài vấn đề sức khỏe ưu tiên nào đó mà chưa giải quyết một cách tổng thế, hệ thống các vấn đề YTTH.
Cho đến năm 1995, nhằm đẩy mạnh công tác YTTH, TCYTTG đã xây dựng sáng kiến y tế trường học toàn cầu nhằm tăng số lượng các “Trường học Nâng cao sức khỏe” 25, 20, 26. Sáng kiến này nhằm mục đích nâng cao sức khỏe cho học sinh, giáo viên, gia đình và thành viên của cộng đồng thông qua nhà trường. Mục tiêu của sáng kiến này là phối hợp sự nỗ lực của hai ngành y tế 6 và giáo dục trong việc nâng cao sức khỏe cho học sinh dựa vào trường học. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào nhu cầu và hoàn cảnh của mỗi nước.
Một trường học NCSK được hiểu là trường học có môi trường khỏe mạnh để sinh hoạt, học tập và làm việc cũng như thực hiện các hoạt động tập luyện, vui chơi. Mô hình Trường học NCSK và sáng kiến YTTH toàn cầu được xây dựng dựa trên cách tiếp cận toàn diện. Cơ sở để TCYTG xây dựng ra sáng kiến này là dựa vào tuyên ngôn Ottawa 27 về nâng cao sức khỏe năm 1986, tuyên bố Jakarta tại Hội nghị quốc tế lần thứ 4 về nâng cao sức khỏe năm 1996 và đề xuất của nhóm chuyên gia TCYTTG về giáo dục và nâng cao sức khỏe trường học toàn diện năm 1995 20. Mô hình Trường học Nâng cao sức khỏe đã được chấp nhận trên toàn thế giới, đã và đang được áp dụng từ những năm 1990 ở nhiều nước trên thế giới như Úc (1997), Mỹ (2005), Hồng Kông (2001) và Việt Nam (2001) 15.
Tại Việt Nam Ngay từ những năm 1960 của thế kỷ 20 mặc dù trong điều kiện khó khăn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, YTTH đã được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Chính phủ và các Bộ Y tế, Bộ Giáo dục, đã có nhiều văn bản được ban hành và khá nhiều các nghiên cứu về sức khoẻ học sinh đã được thực hiện. - Ngày 27/2/1964 Liên Bộ y tế - Giáo dục có thông tư số 32/TTLB qui định về vệ sinh trường học, hướng dẫn tổ chức y tế trong các trường nội trú và qui định nhiệm vụ cho trạm y tế xã chăm lo sức khoẻ học sinh trong trường học ở xã, Liên Bộ y tế-Giáo dục cũng xây dựng mô hình điểm về phong trào thể dục vệ sinh tại trường Tán Thuật (Thái Bình). Năm 1964 cũng lần đầu tiên "Điều lệ vệ sinh bảo vệ sức khoẻ" đã được ban hành, trong đó có tiêu chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn chiếu sáng, bàn ghế với 6 loại kích thước từ loại I đến loại VI trong các loại trường học đã được qui định 28. Sau khi thống nhất đất nước, công tác YTTH tiếp tục được Nhà nước quan tâm.
Năm 1982 Liên Bộ Y tế, Bộ Giáo dục lại có thông tư số 13/LB- 7 GD-YT ngày 9/6/1982 về việc đẩy mạnh công tác vệ sinh trường học trong những năm 1980 28. Một số các nghiên cứu về sức khoẻ học sinh cũng đã được thực hiện như công trình điều tra sức khoẻ thế hệ trẻ Việt Nam do GS Phạm Song – Nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì, Bộ GD&ĐT có tuyển tập nghiên cứu khoa học giáo dục thể chất sức khoẻ trong trường học các cấp và một số cuộc điều tra về phát triển thể lực của học sinh ở qui mô nhỏ hơn. Bắt đầu từ năm 1998 Bộ Y tế đã phối hợp với Bộ GD&ĐT chủ trương khôi phục lại và phát triển YTTH và gắn nội dung này vào chiến lược bảo vệ sức khoẻ trẻ em, bảo vệ sức khoẻ cộng đồng. Bộ Y tế đã có tổ chức nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu xây dựng mô hình YTTH" có mã số KHCN 11 - 06, từ cơ sở khoa học này đã giúp việc đề xuất về tổ chức mạng lưới YTTH 29 và các nội dung hoạt động có liên quan trong giai đoạn đổi mới của đất nước.
Từ năm học 2001-2002, Tổ chức y tế thế giới cùng hai Bộ Y tế và Bộ GD&ĐT đã triển khai dự án thí điểm mô hình "Trường học nâng cao sức khoẻ" ở 6 trường tiểu học thuộc thành phố Hải Phòng và 10 trường tiểu học tại huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, kết quả sau 3 năm học từ 2001-2004. Những năm gần đây, với chủ trương coi Giáo dục đào tạo là “Quốc sách hàng đầu”, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến vấn đề “Giáo dục toàn diện”, trong đó công tác YTTH đóng một vai trò quan trọng, một loạt các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, qui định về hoạt động YTTH đã được ban hành 30, 31, 32, 33….