Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐÁNH GIÁ VIÊN CHỨC NGÀNH Y TẾ 1. Khái niệm đánh giá viên chức ngành y tế Để đưa ra được cách hiểu về đánh giá viên chức ngành y tế là gì, trước hết cần làm rõ một số khái niệm sau: 1. Khái niệm viên chức Khái niệm viên chức được thay đổi theo quan điểm của Đảng và Nhà nước trong quá trình phát triển của hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam. Trải qua một thời gian dài cho đến trước khi Luật cán bộ, công chức được ban hành năm 2008, trong nhận thức cũng như trong các hoạt động quản lý, chúng ta chưa xác định được khái niệm viên chức rõ ràng.
Trong hệ thống pháp luật của nước ta, kể từ Hiến pháp 1992 cho đến các luật khác (ví dụ như: Luật tổ chức Chính phủ; Luật tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Luật bình đẳng giới; Luật Luật sư; Luật chứng khoán; Luật Bảo hiểm xã hội; Luật trợ giúp pháp lý; Luật công nghệ thông tin; Luật đấu thầu; Luật công an nhân dân; Luật nhà ở; Luật phòng chống tham nhũng; Luật giáo dục;…) đều có những điều, khoản quy định sử dụng nhiều lần các thuật ngữ “viên chức”. Nhưng chưa có một văn bản luật nào giải thích các thuật ngữ này. Trong điều kiện thể chế chính trị của Việt Nam, có một điểm đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức luôn có sự liên thông với nhau. Theo yêu cầu nhiệm vụ, cơ quan, đơn vị có thẩm quyền có thể điều động, luân chuyển, bổ nhiệm các vị trí giữa các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.
Năm 1998, Pháp lệnh Cán bộ công chức ra đời, là văn bản pháp lý cao nhất của nước ta về cán bộ, công chức. Dưới Pháp lệnh là Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Nghị định đã cụ thể hóa khái niệm công chức, tuy nhiên chưa có phân định rõ khái niệm viên chức. Pháp lệnh Cán bộ công chức sửa đổi năm 2003 đã phân định được đối tượng được gọi là “viên chức”.
Đây được coi là điểm tiến bộ hơn rất nhiều so với Pháp lệnh năm 1998 và sửa đổi năm 2000 đã chưa đề cập đến. Như vậy, khái niệm “viên 6 n chức” xuất hiện từ lần sửa đổi Pháp lệnh năm 2003. Tuy nhiên, Pháp lệnh vẫn chưa phân biệt cụ thể sự khác nhau giữa khái niệm “cán bộ”, “công chức” và “viên chức”. Sau này, tại Hội nghị Đại hội Đảng các lần họp thường xuyên, khái niệm “Viên chức” đã được đem ra thảo luận nhằm phân biệt chức năng, nhiệm vụ đối với khái niệm “cán bộ, công chức”, đặc biệt chính là thay đổi của Luật Viên chức.
Cụ thể tại Điều 2 Luật Viên chức năm 2010 quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Do đó, sự khác biệt cơ bản của viên chức so với cán bộ, công chức, đó chính là chế độ tuyển dụng gắn với vị trí việc làm, thông qua chế độ hợp đồng làm việc và tiền lương được hưởng từ quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập. Theo đó "Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước; tổ chức chính trị; tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước". Đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Luật Viên chức được chia thành hai loại, là đơn vị sự nghiệp công được giao quyền tự chủ và đơn vị sự nghiệp công chưa được giao quyền tự chủ.
Hoạt động của viên chức không mang tính quyền lực công, chỉ thuần túy là hoạt động nghề nghiệp mang tính chuyên môn, nghiệp vụ, vì vậy, Luật Viên chức đã làm rõ: “Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật về viên chức và các pháp luật có liên quan. Căn cứ vào quy định này, những đặc điểm cơ bản của viên chức tại Việt Nam đó là: Mang quốc tịch Việt Nam, Được ký kết hợp đồng làm việc theo vị trí việc làm tại đơn vị sự nghiệp công lập. Hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Theo vị trí việc làm, viên chức được phân loại như sau: - Viên chức quản lý.
7 n - Viên chức chỉ thực hiện chuyên môn nghiệp vụ theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập. Ngoài ra, viên chức còn được phân loại theo từng ngành, lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp với cấp độ hạng I, II, III, IV. Theo quy định của Luật Viên chức, vị trí việc làm của viên chức gắn với gắn với chức danh nghề nghiệp theo quy định của Luật Viên chức. Việc xác định ai ở vị trí làm việc nào, thuộc chức danh nghề nghiệp nào sẽ được thể hịên trong hợp đồng lao động giữa viên chức và người đứng đầu đơn vị sự nghiệp.
Việc sử dụng khái niệm" chức danh nghề nghiệp" thay cho khái niệm" ngạch" đã thể hiện sự khác nhau giữa viên chức và công chức, nhằm phân định rõ nét đặc thù của viên chức là hoạt động trong lĩnh vực. Khái niệm viên chức ngành y tế Y tế được biết đến là dịch vụ về chăm sóc sức khỏe con người cũng như là một trong những dịch vụ yêu cầu bắt buộc phải phát triển trên mức kinh tế để có thể đảm bảo cuộc sống cho người dân cũng như là sự tồn vong của nhân loại. Những ứng dụng của khoa học công nghệ luôn chú trọng vào việc có thể ứng dụng vào y tế rất nhiều và được ưu tiên hàng đầu. Ngành y tế giữ vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng, điều trị bệnh, bảo đảm cuộc sống sức khỏe cho con người để học tập và lao động.
Chính vì thế mà chúng ta có thể khẳng định rằng ngành y tế có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế, xã hội. Để thực hiện sứ mạng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân ngành y tế càng cần hơn bao giờ hết một đội ngũ những con người có năng lực, trình độ và tâm đức. Theo đó đội ngũ y tế được xác định là một trong những khối xây dựng cốt lõi của một hệ thống y tế bao gồm bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, nhân viên y tế công cộng, nhân viên xã hội về sức khỏe và các nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe cũng như quản lý y tế và nhân viên hỗ trợ - những người có thể không cung cấp dịch vụ trực tiếp nhưng họ góp phần quan trọng trong việc thực hiện hầu hết chức năng hệ thống y tế. Do đó, đội ngũ y tế cũng có thể được xem là nền tảng để xây dựng khái niệm viên chức y tế.
8 n Vậy, từ những quan điểm về viên chức như đã phân tích ở trên, chúng ta có thể hiểu: “Viên chức ngành y tế là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị y tế công lập theo quy định của pháp luật, gồm Viên chức ngành y tế hiện nay bao gồm những người làm công tác quản lý, chuyên môn nghiệp vụ trong các bệnh viện chuyên khoa, đa khoa, bệnh viện tuyến quận, huyện, phường xã, thị trấn và cả những người làm công tác y tế dự phòng, công tác dân số và kế hoac ̣h hóa gia đình, bao gồm: bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, phục vụ trong ngành y tế”. Đặc điểm của viên chức ngành y tế có những đặc điểm chung của viên chức theo quy định pháp luật Việt Nam như: Một là, viên chức ngành y tế là người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập, do đó viên chức cũng có những quyền và nghĩa vụ của viên chức. Hai là, viên chức ngành y tế có một số quyền mới được quy định tại Điều 14 Luật Viên chức năm 2010 (Quyền của viên chức về hoạt động kinh doanh và làm việc ngoaì thời gian quy định). Cụ thể như: được hoạt động nghề nghiệp ngoài thời gian làm việc quy định trong hợp đồng làm việc, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; được ký hợp đồng vụ việc với cơ quan, tổ chức đơn vị khác mà pháp luật không cấm nhưng phải hoàn thành nhiệm vụ được giao và có sự đồng ý của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập; được góp vốn nhưng không tham gia quản lý, điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã , bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.
Song song với việc quy định về quyền của viên chức, thì các quy định về nghĩa vụ cuả viên chức cũng được quy định phù hợp với đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của viên chức. Ba là, viên chức ngành y tế cũng phải có viên chức quản lý theo quy định của Nhà nước và Đảng, là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý. 9 n Tuy nhiên, vì có đặc điểm mang tính chuyên môn nghiệp vụ, nên viên chức ngành y tế chịu nhiều trách nhiệm và nghĩa vụ theo quy chuẩn riêng của ngành Y tế. Đó là quy định về y đức (tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế, Ban hành kèm theo Quyết định số 2088/BYT-QĐ ngày 06 tháng 11 năm 1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Lương y phải như từ mẫu". Y đức là phẩm chất tốt đẹp của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tuỵ phục vụ, hết lòng thương yêu chăm sóc người bệnh, coi họ đau đơn như mình đau đớn, như lời. Y đức phải thể hiện qua những tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức được xã hội thừa nhận, như: - Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ. Phải có lương tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề, luôn rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc.