Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, phụ nữ Việt Nam chiếm trên 50% dân số và giữ vai trò nòng cốt trong mọi lĩnh vực đời sống. Tại huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, với tổng diện tích tự nhiên 7.448,9 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 67,8% và hơn 91% dân cư sinh sống tại địa bàn nông thôn, lực lượng lao động nữ là nhân tố quyết định trực tiếp đến sự thành bại của các phong trào sản xuất và kiến thiết địa phương. Trong bối cảnh khoảng 60% đến 70% nam giới trong độ tuổi lao động chuyển dịch ra các đô thị lớn hoặc khu công nghiệp làm ăn xa, gánh nặng sản xuất nông nghiệp, quản lý kinh tế hộ và tham gia các hoạt động xã hội đặt phần lớn lên vai người phụ nữ.

Mặc dù có những cống hiến vượt bậc, vị thế và mức độ tham gia vào các cơ chế ra quyết định xây dựng nông thôn mới của phụ nữ vẫn đối mặt với nhiều rào cản định kiến và hạn chế về năng lực. Nghiên cứu này hướng đến mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò giới; khảo sát, đánh giá thực trạng tham gia xây dựng nông thôn mới của phụ nữ huyện Mỹ Lộc; phân tích các yếu tố chính sách, cá nhân và tổ chức ảnh hưởng đến mức độ đóng góp của họ; từ đó đề xuất các nhóm giải pháp khoa học, khả thi nhằm nâng cao vị thế và năng lực cho phụ nữ cơ sở.

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại 3 xã đại diện là Mỹ Tân, Mỹ Thành và Mỹ Thịnh trong giai đoạn từ tháng 9/2017 đến tháng 10/2018 với chuỗi số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2012 đến 2017. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp luận cứ vững chắc giúp huyện Mỹ Lộc nâng cao thu nhập bình quân đầu người vượt mốc 32 triệu đồng/năm và đưa 11/11 xã về đích nông thôn mới theo đúng kế hoạch.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa của hai trường phái lý thuyết giới kinh điển là lý thuyết "Phụ nữ trong phát triển" (WID - Women in Development) và "Giới và phát triển" (GAD - Gender and Development). Tiếp cận WID nhấn mạnh việc lồng ghép phụ nữ vào guồng quay phát triển kinh tế thông qua tạo cơ hội việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện phúc lợi. Trong khi đó, cách tiếp cận GAD mở rộng tầm nhìn sang khía cạnh quan hệ quyền lực, cấu trúc xã hội và trao quyền toàn diện, khẳng định phụ nữ không chỉ là đối tượng thụ hưởng thụ động mà phải là chủ thể trực tiếp hoạch định, thực thi và giám sát các chương trình phát triển.

Bên cạnh đó, luận văn quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước thông qua Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị và Luật Bình đẳng giới năm 2006. Nghiên cứu lồng ghép hệ thống 3 khái niệm trọng tâm: "Vai trò giới trong sản xuất và tái sản xuất", "Trao quyền kinh tế và chính trị cho phụ nữ" và "Tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2016-2020" theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg.

Về mặt thực tiễn quốc tế, đề tài tham chiếu thành công từ phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc và phong trào Mỗi làng một sản phẩm (OVOP) tại Nhật Bản – nơi 339 nhóm phụ nữ chế biến nông sản tự quản đã nâng doanh thu từ 35,9 tỷ yên lên 141 tỷ yên, tạo nguồn cảm hứng để phát huy sức mạnh phụ nữ nông thôn tại Nam Định.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hài hòa giữa nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ Chi cục Thống kê huyện Mỹ Lộc, Ban chỉ đạo xây dựng Nông thôn mới các cấp và nguồn dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa. Cỡ mẫu khảo sát gồm 150 hộ gia đình (thuộc đối tượng phụ nữ trực tiếp tham gia sản xuất và đại diện hộ gia đình) cùng 30 cán bộ chuyên trách cấp huyện, xã và thôn xóm. Phương pháp chọn mẫu áp dụng là chọn mẫu phân tầng có chủ đích kết hợp ngẫu nhiên tại 3 xã tiêu biểu đại diện cho các vùng sản xuất: xã ven đô thâm canh hoa màu Mỹ Tân, xã thuần nông trồng lúa Mỹ Thành và xã phát triển kinh tế đa ngành nghề Mỹ Thịnh.

Phương pháp xử lý và phân tích số liệu bao gồm thống kê mô tả, thống kê so sánh đa chiều và hệ thống công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA). Lý do lựa chọn các phương pháp này là nhằm phản ánh khách quan mức độ tham gia bằng số liệu định lượng, đồng thời sử dụng sơ đồ VENN để giải mã mối quan hệ tương tác thể chế giữa Hội phụ nữ với cấp ủy, chính quyền địa phương và áp dụng ma trận SWOT để làm rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội cùng thách thức nội tại của phụ nữ. Toàn bộ tiến trình thu thập và xử lý dữ liệu được thực hiện liên tục trong khoảng thời gian 14 tháng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phụ nữ là lực lượng trụ cột trong việc huy động và đóng góp các nguồn lực vật chất, phi vật chất cho kiến thiết hạ tầng. Tại 3 xã điều tra (Mỹ Tân, Mỹ Thành, Mỹ Thịnh), người dân và hội viên phụ nữ đã tự nguyện hiến 15.215 m2 đất để mở rộng đường giao thông, thủy lợi nội đồng; đóng góp 20,94 tỷ đồng tiền mặt và tham gia 14.832 ngày công lao động trực tiếp. Đáng chú ý, các cấp Hội phụ nữ đã đứng ra đảm nhận và tự quản 14.300 m đường hoa ven các trục đường liên thôn, góp phần thay đổi diện mạo cảnh quan môi trường sinh thái nông thôn.

Thứ hai, mức độ tham gia vào hệ thống lãnh đạo và ra quyết định chính trị cấp cơ sở của phụ nữ còn khoảng cách khá lớn so với nam giới. Tỷ lệ phụ nữ tham gia vào Ban chỉ đạo xây dựng Nông thôn mới cấp xã chỉ đạt mức khiêm tốn là 18,2%. Tuy nhiên, trong phạm vi kinh tế gia đình, quyền năng của người phụ nữ lại rất rõ nét khi có trên 65% phụ nữ được khảo sát khẳng định họ tự quyết định hoặc cùng chồng bàn bạc bình đẳng về các khoản đóng góp tự nguyện bằng tiền và đất đai cho địa phương.

Thứ ba, phụ nữ thể hiện sự chủ động trong việc tiếp cận khoa học kỹ thuật và vốn tín dụng chính sách. Thông qua tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ, hàng trăm hộ gia đình hội viên đã tiếp cận nguồn vốn ủy thác từ Ngân hàng Chính sách Xã hội để phát triển trang trại, chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ lúa sang hoa tươi và rau an toàn. Tỷ lệ phụ nữ tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật thâm canh nông nghiệp đạt trên 75%, giúp nâng cao năng suất cây trồng và tăng thu nhập hộ gia đình đáng kể.

Thảo luận kết quả

Thực trạng tỷ lệ cán bộ nữ trong Ban chỉ đạo cấp xã chỉ đạt 18,2% phản ánh rõ nét sự tồn tại của định kiến giới truyền thống tại các vùng nông thôn đồng bằng sông Hồng. Phụ nữ thường bị quá tải bởi "gánh nặng kép" khi vừa đảm đương sản xuất kinh tế vừa quán xuyến toàn bộ công việc nội trợ, chăm sóc gia đình trong bối cảnh nam giới di cư làm ăn xa. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu trước đây tại Hương Sơn (Hà Tĩnh) và Nghĩa Hiệp (Hưng Yên), cho thấy sự hạn chế về thời gian và cơ hội học tập văn hóa, chính trị là rào cản lớn nhất kìm hãm vị thế lãnh đạo của lao động nữ.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua sơ đồ phân bổ nguồn lực và bảng tổng hợp cơ cấu đóng góp. Cụ thể, các bảng số liệu chi tiết cho thấy tỷ trọng đóng góp ngày công lao động của phụ nữ đạt mức xấp xỉ 70% trong các công trình công cộng như vệ sinh kênh mương, tôn tạo nhà văn hóa và trồng cây xanh. Sơ đồ VENN thể hiện sự gắn kết mật thiết giữa Hội Liên hiệp Phụ nữ với Đoàn Thanh niên và Ban chỉ đạo NTM xã, tuy nhiên sự phối hợp với các cơ quan chuyên môn kỹ thuật khuyến nông còn chưa thực sự thường xuyên. Việc phụ nữ đảm nhận thành công các tiêu chí khó như tiêu chí số 17 về môi trường và an toàn thực phẩm (thông qua cuộc vận động "5 không, 3 sạch") đã chứng minh rằng khi được trao quyền và tạo điều kiện, phụ nữ hoàn toàn có thể trở thành chủ thể kiến tạo phát triển nông thôn bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tăng cường trao quyền và nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ trong hệ thống chính trị cơ sở. Cấp ủy và UBND huyện Mỹ Lộc cần xây dựng quy hoạch cán bộ nữ dài hạn, bảo đảm nâng tỷ lệ phụ nữ tham gia Ban chỉ đạo xây dựng NTM cấp xã từ mức 18,2% hiện nay lên tối thiểu 30% vào năm 2020. Chủ thể thực hiện là Ban Thường vụ Huyện ủy, Phòng Nội vụ huyện phối hợp với Đảng ủy 11 xã trên địa bàn.

Thứ hai, đổi mới và mở rộng quy mô đào tạo nghề, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho phụ nữ. Trạm Khuyến nông huyện kết hợp với Trung tâm Dạy nghề tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu về kỹ thuật trồng hoa công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ và quản trị kinh doanh hộ gia đình, bảo đảm tiếp cận tối thiểu 80% hội viên phụ nữ trong giai đoạn 2018-2020. Mục tiêu là giúp lao động nữ nâng cao năng suất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thứ ba, mở rộng mạng lưới tài chính vi mô và vốn tín dụng chính sách ủy thác. Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Mỹ Lộc cần phối hợp cùng Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp tăng trưởng dư nợ cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách thêm 15%/năm. Ưu tiên giải ngân cho các mô hình kinh tế tập thể, hợp tác xã hoặc tổ hợp tác do phụ nữ làm chủ để phát triển các sản phẩm đặc trưng địa phương theo chuỗi giá trị OCOP.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác tuyên truyền bình đẳng giới và chia sẻ trách nhiệm gia đình. Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Mỹ Lộc chủ trì phối hợp với Đoàn Thanh niên và Phòng Văn hóa - Thông tin tổ chức các chiến dịch truyền thông nhằm xóa bỏ định kiến giới, khuyến khích nam giới chia sẻ công việc nhà, nhân rộng 100% mô hình tuyến đường hoa và gia đình "5 không, 3 sạch" tại toàn bộ các thôn xóm trước năm 2019.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm đối tượng thứ nhất là cán bộ quản lý, ban chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới các cấp. Luận văn cung cấp khung dữ liệu thực chứng và cơ sở lý luận giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng giải pháp lồng ghép giới vào các tiêu chí nông thôn mới nâng cao và kiểu mẫu một cách hiệu quả.

Nhóm đối tượng thứ hai là cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ từ cấp cơ sở đến cấp tỉnh. Tài liệu này là cẩm nang thực tiễn giá trị để cán bộ hội học hỏi các mô hình tổ chức hiệu quả như tuyến đường hoa tự quản, quản lý nguồn vốn tín dụng chính sách, triển khai phong trào "Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch" và kinh nghiệm vận động hội viên hiến đất làm đường.

Nhóm đối tượng thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Phát triển Nông thôn, Kinh tế Nông nghiệp, Xã hội học và Giới. Luận văn mang lại nguồn tư liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu kết hợp giữa phân tích định lượng thống kê, công cụ sơ đồ VENN và ma trận SWOT trong đánh giá phát triển cộng đồng.

Nhóm đối tượng thứ tư là các chuyên gia, điều phối viên của các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và các dự án phát triển nông thôn. Công trình cung cấp bức tranh chân thực về cấu trúc lao động nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh di cư lao động, hỗ trợ thiết kế các dự án can thiệp sinh kế và nâng cao năng lực cho phụ nữ cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ phụ nữ tham gia vào cơ cấu lãnh đạo xây dựng nông thôn mới tại huyện Mỹ Lộc đạt mức độ nào? Theo kết quả nghiên cứu, tỷ lệ cán bộ nữ tham gia Ban chỉ đạo xây dựng NTM cấp xã tại Mỹ Lộc mới chỉ đạt 18,2%. Mức độ này cho thấy phụ nữ vẫn chưa có tiếng nói tương xứng trong công tác quy hoạch và ra quyết định, dù họ chiếm hơn 54% lực lượng lao động nông nghiệp địa bàn.

Phụ nữ tại 3 xã điều tra đã có những đóng góp vật chất cụ thể nào cho phong trào xây dựng NTM? Hội viên phụ nữ và các hộ gia đình tại 3 xã Mỹ Tân, Mỹ Thành, Mỹ Thịnh đã hiến 15.215 m2 đất, đóng góp 20,94 tỷ đồng tiền mặt, tham gia 14.832 ngày công lao động trực tiếp và chăm sóc 14.300 m đường hoa liên thôn khang trang, sạch đẹp.

Những nguyên nhân chính nào làm hạn chế khả năng phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng NTM? Các rào cản lớn nhất gồm: định kiến giới truyền thống, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ còn hạn chế, gánh nặng công việc nội trợ gia đình không tên và sự thiếu hụt các khóa tập huấn khuyến nông được thiết kế riêng biệt, phù hợp với quỹ thời gian của phụ nữ.

Mô hình phát triển quốc tế nào được luận văn phân tích và rút ra bài học kinh nghiệm cho địa phương? Luận văn đã phân tích sâu sắc phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc và phong trào Mỗi làng một sản phẩm (OVOP) tại Nhật Bản với 339 nhóm phụ nữ chế biến nông sản tạo doanh thu 141 tỷ yên, làm bài học quý về tổ chức sản xuất tập thể cho phụ nữ Mỹ Lộc.

Cuộc vận động "Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch" hỗ trợ thực hiện những tiêu chí nông thôn mới nào? Cuộc vận động do Hội Phụ nữ chủ trì gắn kết chặt chẽ với 8/19 tiêu chí nông thôn mới quốc gia, đóng vai trò then chốt trong việc hoàn thành tiêu chí số 17 về môi trường, an toàn thực phẩm và tiêu chí số 10 về nâng cao thu nhập cho hộ gia đình.

Kết luận

  • Khẳng định vai trò xung kích và đóng góp quyết định của phụ nữ huyện Mỹ Lộc trong việc huy động 15.215 m2 đất, 20,94 tỷ đồng và thực hiện thành công 19 tiêu chí NTM.
  • Nhận diện rõ nét khoảng cách giới khi tỷ lệ phụ nữ trong Ban chỉ đạo NTM xã chỉ đạt 18,2% và rào cản gánh nặng việc nhà khi 60 - 70% nam giới đi làm xa.
  • Đóng góp hệ thống cơ sở lý luận WID, GAD và khung phương pháp PRA, SWOT thực chứng tin cậy cho nghiên cứu phát triển nông thôn cấp huyện.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm: nâng cao tỷ lệ lãnh đạo nữ lên 30%, đào tạo nghề cho 80% phụ nữ, tăng trưởng tín dụng 15%/năm và xóa bỏ định kiến giới.
  • Xác định lộ trình then chốt để đưa toàn bộ 11/11 xã của huyện Mỹ Lộc về đích nông thôn mới bền vững vào năm 2019 và tiến tới đạt chuẩn huyện NTM giai đoạn 2019-2020.

Công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng nâng cao quyền năng cho phụ nữ không chỉ là vấn đề công bằng xã hội mà còn là giải pháp đột phá để phát triển kinh tế nông nghiệp hiệu quả. Cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp và các tổ chức đoàn thể cần chung tay thực thi đồng bộ các giải pháp nhằm giải phóng toàn diện tiềm năng của phụ nữ nông thôn trong giai đoạn mới.