Tổng quan nghiên cứu

Trong cấu trúc hệ thống chính trị Việt Nam, phụ nữ chiếm trên 51% tổng dân số và đóng góp hơn 48% lực lượng lao động xã hội. Thực tiễn này khẳng định vai trò then chốt của phụ nữ trong việc thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế, văn hóa và quản trị quốc gia. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm được đặt ra là làm thế nào để phát huy hiệu quả cơ chế tham gia quản lý nhà nước của tổ chức đại diện cho quyền lợi phụ nữ trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Mục tiêu cụ thể của công trình khoa học này bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận và nền tảng pháp lý về quyền lực nhà nước gắn liền với vai trò của đoàn thể nhân dân; khảo sát, đánh giá toàn diện thực trạng các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ tham gia quản lý nhà nước; đồng thời xác lập hệ thống giải pháp mang tính chiến lược nhằm hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan hành chính và tổ chức Hội. Phạm vi không gian nghiên cứu được tiến hành trên phạm vi toàn quốc với mạng lưới 4 cấp tổ chức, tập trung trọng điểm vào chu kỳ phát triển giai đoạn 2007-2011 và tầm nhìn các năm tiếp theo.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài được thể hiện rõ nét qua các chỉ số ảnh hưởng trực tiếp: cung cấp luận cứ pháp lý nâng cao năng lực đại diện cho gần 15 triệu hội viên (chiếm khoảng 70% phụ nữ từ 18 tuổi trở lên) và tối ưu hóa hiệu quả thực thi chính sách an sinh xã hội trên khắp 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước hiện đại kết hợp với học thuyết về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền. Quản lý nhà nước được tiếp cận theo nghĩa rộng, là toàn bộ hoạt động mang tính quyền lực của bộ máy lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng công cụ pháp luật. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết xã hội hóa quản trị công và vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện phản biện xã hội, kiểm soát quyền lực nhà nước.

Mô hình nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ tương tác hai chiều giữa chủ thể quản lý (cơ quan hành chính nhà nước các cấp) và tổ chức đại diện nhân dân (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) thông qua 3 trụ cột chức năng: tham gia xây dựng pháp luật, tổ chức thực thi chính sách và giám sát - phản biện xã hội. Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa xuyên suốt bao gồm: quyền lực nhà nước thống nhất, sự tham gia của nhân dân vào quản trị công và bình đẳng giới thực chất.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng tổng thể dữ liệu thứ cấp từ hệ thống báo cáo tổng kết của cơ quan Trung ương Hội, Bộ Nội vụ, Văn phòng Quốc hội cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát dữ liệu toàn diện từ 63 tỉnh, thành phố, kết hợp phân tích chuyên sâu tại 11 địa phương đại diện cho các vùng kinh tế - xã hội trọng điểm và khảo sát 75 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn 2009-2010.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp nghiên cứu trường hợp điển hình được áp dụng nhằm phản ánh chính xác sự khác biệt về năng lực cán bộ và điều kiện phát triển giữa các vùng miền. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích luật học so sánh kết hợp phương pháp thống kê định lượng và phân tích định tính là nhằm bảo đảm tính liên kết chặt chẽ giữa các quy định pháp luật chuẩn tắc với thực tiễn vận hành thực tế. Trục thời gian nghiên cứu tập trung phân tích số liệu thực chứng từ năm 2007 đến năm 2011, tạo cơ sở thực nghiệm vững chắc cho các đề xuất hoàn thiện thể chế đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, vai trò tham gia xây dựng luật pháp và chính sách của Hội đạt được những kết quả mang tính đột phá. Điển hình là việc Trung ương Hội chủ trì soạn thảo thành công dự án Luật Bình đẳng giới (được Quốc hội khóa XI thông qua năm 2006). Giai đoạn 2009-2010, Hội tham gia đóng góp ý kiến có chất lượng vào 75 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (gồm 2 dự thảo bộ luật, 40 dự thảo luật, 9 nghị định và 12 thông tư). Tại cấp địa phương, Hội đề xuất sửa đổi và được chính quyền phê duyệt 40 chính sách năm 2009 cùng 70 chính sách an sinh năm 2010.

Thứ hai, công tác hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo tạo ra tác động xã hội to lớn. Giai đoạn 2007-2011, các cấp Hội huy động và quản lý tổng dư nợ vốn vay vượt mức 50.000 tỷ đồng, hỗ trợ hơn 12 triệu lượt phụ nữ vay vốn sản xuất. Phong trào giúp đỡ hơn 2,3 triệu hộ nghèo do phụ nữ làm chủ, giúp gần 320.000 hộ thoát nghèo bền vững. Nguồn vốn 40 tỷ đồng từ Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo đã giúp 1.083 người thoát nghèo, chiếm tỷ lệ 11,8% tổng số người tiếp cận và 24,8% tổng số phụ nữ nghèo vay vốn.

Thứ ba, hoạt động tham gia quản lý nhà nước trong lĩnh vực chính trị và bình đẳng giới đạt mức tăng trưởng tích cực tại cấp cơ sở. Tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2011-2016 tăng đồng bộ ở cả 3 cấp: cấp tỉnh đạt 25,34% (tăng 1,51% so với nhiệm kỳ trước), cấp huyện đạt 22,84% (tăng 0,74%) và cấp xã đạt 19,94% (tăng 0,39%). Có 23 trên 63 tỉnh, thành phố đạt tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIII từ 30% trở lên.

Thứ tư, công tác phối hợp kiểm tra, giám sát an sinh xã hội được chuẩn hóa với 100% cơ sở Hội triển khai cuộc vận động "Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch", huy động hơn 185 tỷ đồng để xây dựng trên 11.000 mái ấm tình thương cho phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn từ năm 2008 đến 2011.

Thảo luận kết quả

Các kết quả trên chứng minh rằng khi có hành lang pháp lý rõ ràng (tiêu biểu như Nghị định số 19/2003/NĐ-CP), vai trò của tổ chức Hội được nâng tầm từ tham gia thụ động sang chủ động hoạch định chính sách. Nguyên nhân chính của các thành tựu bắt nguồn từ sự đổi mới mạnh mẽ về chất lượng đội ngũ cán bộ: 100% Chủ tịch và 98,57% Phó Chủ tịch Hội cấp tỉnh đạt trình độ đại học trở lên; tỷ lệ cán bộ có trình độ cử nhân hoặc cao cấp chính trị tại cấp tỉnh đạt 37,96%.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua bảng so sánh cơ cấu trình độ cán bộ qua các cấp và biểu đồ cột thể hiện mức tăng trưởng tỷ lệ nữ tham gia cơ quan dân cử từ cấp xã đến cấp Quốc hội. Khi so sánh với các báo cáo quản trị công cùng thời kỳ, nghiên cứu làm rõ rằng một số hạn chế vẫn tồn tại: tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIII chỉ đạt 24,4% (giảm 1,36% so với khóa XII), hoạt động giám sát tại cấp huyện và xã đôi lúc còn mang tính hình thức do thiếu cơ chế tài chính độc lập và áp lực hành chính hóa.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế pháp lý: Kiến nghị Quốc hội và Chính phủ ban hành Luật về Hội, đồng thời sửa đổi, bổ sung kịp thời Nghị định số 19/2003/NĐ-CP nhằm quy định bắt buộc trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nhà nước trước những kiến nghị giám sát của Hội. Mục tiêu đạt 100% văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến giới phải có ý kiến phản biện chính thức của Hội trước năm 2015 do Chính phủ và các Bộ ngành chủ trì thực hiện.

Thứ hai, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Triển khai chương trình đào tạo chuẩn hóa chức danh cho cán bộ Hội cấp cơ sở. Đảm bảo đến hết năm 2015 có 100% Chủ tịch Hội phụ nữ cấp xã dưới 45 tuổi đạt chuẩn chuyên môn từ trung cấp trở lên và hoàn thành bồi dưỡng lý luận chính trị, do Trung ương Hội phối hợp với Bộ Nội vụ thực hiện.

Thứ ba, tăng cường tỷ lệ phụ nữ tham chính: Xây dựng cơ chế quy hoạch nguồn cán bộ nữ dài hạn, bảo đảm tỷ lệ nữ ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ tiếp theo đạt từ 35% trở lên, phấn đấu đạt tỷ lệ trúng cử trên 30%, do Ban Tổ chức Trung ương, cấp ủy địa phương và các cấp Hội phối hợp triển khai.

Thứ tư, đổi mới phương thức quản lý tài chính vi mô và dạy nghề: Chuyển đổi các chương trình tín dụng tiết kiệm sang mô hình tổ chức tài chính vi mô chính quy. Hướng tới mục tiêu đào tạo nghề cho trên 250.000 lao động nữ mỗi năm với tỷ lệ có việc làm sau đào tạo đạt tối thiểu 75%, do Trung ương Hội chủ trì liên kết với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ chuyên trách và lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp: Nghiên cứu cung cấp khung cẩm nang nghiệp vụ và kỹ năng phản biện xã hội, giúp nâng cao năng lực đóng góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương.

Nhóm công chức thuộc các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan dân cử: Tài liệu là nguồn tham chiếu chuẩn xác để xây dựng quy chế phối hợp công tác, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm.

Nhóm nghiên cứu, giảng viên và học viên chuyên ngành Luật học, Quản lý công: Luận văn cung cấp hệ thống số liệu thực chứng giai đoạn 2007-2011, là nguồn tài liệu học thuật giá trị phục vụ giảng dạy môn Lý luận nhà nước và pháp luật, Luật Hành chính.

Nhóm các tổ chức phi chính phủ và tổ chức phát triển quốc tế: Công trình hỗ trợ góc nhìn toàn diện về mạng lưới an sinh xã hội cơ sở tại Việt Nam, phục vụ việc thiết kế các dự án viện trợ nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ yếu thế.

Câu hỏi thường gặp

Cơ sở pháp lý cao nhất quy định quyền tham gia quản lý nhà nước của Hội là gì? Cơ sở pháp lý tối cao được xác lập tại Hiến pháp năm 1992 (Điều 9, Điều 87) cùng Nghị định số 19/2003/NĐ-CP của Chính phủ. Các văn bản này quy định rõ quyền trình dự án luật, quyền tham dự các phiên họp chính quyền cùng cấp và trách nhiệm của cơ quan hành chính trong việc tạo điều kiện cho Hội hoạt động.

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội không? Căn cứ Điều 87 Hiến pháp năm 1992, Hội là tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc có đầy đủ thẩm quyền trình dự án luật và pháp lệnh. Minh chứng tiêu biểu là việc Hội đã chủ trì xây dựng thành công Luật Bình đẳng giới năm 2006 sau quá trình khảo sát thực tế tại 11 tỉnh, thành phố.

Hội đã tham gia quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế và giảm nghèo như thế nào? Hội trực tiếp điều hành mạng lưới ủy thác tín dụng với tổng dư nợ đạt trên 50.000 tỷ đồng, hỗ trợ 12 triệu lượt hội viên vay vốn. Hoạt động này giúp hơn 320.000 hộ nghèo do phụ nữ làm chủ thoát nghèo, đồng thời hàng năm đào tạo nghề cho hơn 200.000 lao động nữ nông thôn.

Vai trò giám sát và phản biện xã hội của Hội được triển khai trên thực tế ra sao? Hàng năm, mỗi tỉnh, thành Hội chủ động giám sát ít nhất 2 chính sách an sinh xã hội liên quan đến phụ nữ và trẻ em. Hội đã phối hợp kiểm tra việc thực hiện Nghị định 19/2003/NĐ-CP tại 10 bộ ngành và 6 địa phương, kịp thời kiến nghị xử lý các sai phạm về chế độ lao động nữ.

Những rào cản lớn nhất ảnh hưởng đến hiệu quả tham gia quản lý nhà nước của Hội là gì? Những rào cản chính bao gồm xu hướng hành chính hóa phong trào Hội ở một số địa phương, tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo chủ chốt chưa đạt kỳ vọng (nữ đại biểu Quốc hội khóa XIII đạt 24,4%), cùng với nguồn lực kinh phí dành riêng cho hoạt động phản biện xã hội còn hạn chế.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và khẳng định việc Hội tham gia quản lý nhà nước là tất yếu khách quan trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  • Phân tích thực trạng giai đoạn 2007-2011 với các dấu ấn nổi bật: chủ trì xây dựng Luật Bình đẳng giới, quản lý hơn 50.000 tỷ đồng vốn vay và xây dựng 11.000 mái ấm tình thương.
  • Chỉ rõ những điểm nghẽn về thể chế và chất lượng nhân lực cơ sở, đặc biệt là sự thiếu hụt cơ chế phản biện xã hội mang tính ràng buộc pháp lý.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ về hoàn thiện pháp luật, chuẩn hóa 100% đội ngũ cán bộ xã, nâng tỷ lệ nữ ứng cử dân cử lên trên 35% và chuyên nghiệp hóa tài chính vi mô.
  • Lộ trình thực hiện các giải pháp cần được cụ thể hóa trong giai đoạn 2012-2020 nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính quốc gia.

Các nhà quản lý, cán bộ Hội và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình khoa học này để ứng dụng vào việc xây dựng quy chế phối hợp và hoàn thiện chính sách an sinh xã hội thực tiễn.