Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, gia đình luôn được xác định là tế bào tự nhiên của xã hội, giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của đời sống cộng đồng. Xây dựng gia đình văn hóa với các chuẩn mực cốt lõi gồm ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc là nền tảng quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã khẳng định yêu cầu: phát huy truyền thống, tiềm năng, thế mạnh và tinh thần làm chủ của phụ nữ; xây dựng người phụ nữ Việt Nam thời đại mới gắn liền với việc hoàn thiện luật pháp, chính sách về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình.

Tỉnh Vĩnh Long nằm ở trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long, hạ lưu sông Mê Kông, kẹp giữa hai nhánh sông Tiền và sông Hậu. Bên cạnh các thành tựu phát triển kinh tế và phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, địa phương này vẫn đang đối diện với nhiều rào cản xã hội như bất bình đẳng giới, tình trạng kết hôn sớm, ly hôn và các vụ bạo lực gia đình còn tiếp diễn. Trong các xung đột gia đình, phụ nữ là đối tượng chịu thiệt thòi trực tiếp về thể chất, tâm lý và quyền lợi hợp pháp. Thực trạng này đặt ra yêu cầu phải đánh giá khoa học thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm củng cố vị thế của người phụ nữ trong thiết chế gia đình tại địa phương.

Khóa luận xác định mục đích nghiên cứu tổng quát là làm rõ vai trò của người phụ nữ Vĩnh Long trong xây dựng gia đình văn hóa trên địa bàn tỉnh hiện nay. Ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được xác lập gồm:

  1. Khái quát lý luận về gia đình văn hóa và vai trò của người phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở Việt Nam.
  2. Phân tích thực trạng và nguyên nhân thực trạng vai trò của người phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Vĩnh Long.
  3. Đề xuất một số giải pháp phát huy vai trò của người phụ nữ trong việc xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Vĩnh Long hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn như sau:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của người phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính tỉnh Vĩnh Long.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 5 năm, từ năm 2018 đến năm 2022.

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong khóa luận chỉ ra ba nhóm công trình chính:

  • Nhóm nghiên cứu chung về gia đình và xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (tiêu biểu như các luận văn của Võ Văn Mười, Nguyễn Thị Thanh Hoa, Nguyễn Kiều Tiên).
  • Nhóm nghiên cứu về vị trí, vai trò của người phụ nữ Việt Nam gắn với phát triển văn hóa gia đình và bình đẳng giới (các ấn phẩm của Lê Minh, Trần Quốc Vượng, Lê Thi, Dương Thị Minh, Nguyễn Thị Thu Hường, Trương Trần Hoàng Phúc).
  • Nhóm nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa theo từng địa bàn đặc thù (nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Hằng tại Tây Nguyên, Trần Thị Lệ Thủy tại Ninh Thuận, Đỗ Thị Ngát tại Tây Ninh, Hà Thị Vân tại Quảng Ninh, Khuất Thị Hương tại ngoại thành Hà Nội).

Trên cơ sở kế thừa các công trình đi trước, tác giả xác định tại tỉnh Vĩnh Long chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt, toàn diện về vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa giai đoạn 2018 - 2022, tạo nên tính cấp thiết của đề tài.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng khung lý thuyết của Chủ nghĩa xã hội khoa học, triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về hình thái kinh tế - xã hội, vị trí của gia đình và giải phóng phụ nữ. Tác giả trích dẫn các luận điểm kinh điển trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức và Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước của C. Mác và Ph. Ăng-ghen; các định nghĩa chuẩn tắc từ Từ điển chủ nghĩa cộng sản khoa học (1986) và Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2021).

Khung pháp lý và chính sách được sử dụng xuyên suốt công trình gồm:

  • Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Khoản 2 Điều 3 về khái niệm gia đình; Điều 17 về quyền và nghĩa vụ bình đẳng giữa vợ và chồng).
  • Hệ thống văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc (Đại hội VI, VII, Cương lĩnh năm 1991, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII năm 1998, Đại hội IX, X, XIII) và Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 21/05/2005 của Ban Bí thư về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
  • Tiến trình văn bản quy định tiêu chuẩn danh hiệu gia đình văn hóa: Thông tư liên bộ số 35/TT ngày 12/05/1975; Quyết định số 62/2006/QĐ-BVHTT ngày 23/06/2006 của Bộ Văn hóa - Thông tin; Thông tư số 12/2011/TT-BVHTTDL ngày 10/10/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; và văn bản áp dụng trực tiếp là Nghị định số 122/2018/NĐ-CP ngày 17/09/2018 của Chính phủ quy định về xét tặng danh hiệu "Gia đình văn hóa".

Về phương pháp luận, đề tài dựa trên phép biện chứng duy vật và kết hợp hai nhóm phương pháp nghiên cứu:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phương pháp lịch sử, phương pháp đọc và nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp diễn dịch và quy nạp.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát, phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi và phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn.

Nguồn dữ liệu thực chứng được trích xuất từ các tài liệu thống kê chính thống:

  • Số liệu thống kê dân số, lao động và hiện trạng sử dụng đất (tính đến ngày 31/12/2021) của Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Long.
  • Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương.
  • Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
  • Báo cáo tổng kết 20 năm phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" giai đoạn 2000 - 2020 và Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Một số lý luận chung về gia đình văn hóa và vai trò của người phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở Việt Nam

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về thiết chế gia đình, chuẩn mực gia đình văn hóa và vị trí của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam. Nội dung chương được kết cấu thành hai tiết chính:

1.1. Lý luận về gia đình và gia đình văn hóa: Khóa luận làm rõ bốn mối quan hệ cơ bản cấu thành gia đình: quan hệ hôn nhân; quan hệ huyết thống; quan hệ quần tụ trong cùng một không gian sinh tồn; và quan hệ nuôi dưỡng giữa các thành viên qua các thế hệ. Vị trí của gia đình được phân tích qua bốn khía cạnh: là tế bào của xã hội; là tổ ấm mang lại hạnh phúc cho cá nhân; là thiết chế cơ sở đặc thù kết nối cá nhân với xã hội; và là thực thể có quy mô, kết cấu phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội.

Bốn chức năng xã hội cơ bản của gia đình được phân tích gồm:

  • Chức năng tái sản xuất ra con người (duy trì nòi giống, tái sản xuất sức lao động cho xã hội).
  • Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình (sản xuất của cải, tiêu dùng vật chất và tái tạo sức lao động).
  • Chức năng nuôi dưỡng và giáo dục (trường học đầu tiên hình thành nhân cách, đạo đức).
  • Chức năng thỏa mãn các nhu cầu tâm - sinh lý, tình cảm.

Về khái niệm "gia đình văn hóa", tác giả điểm lại các giai đoạn phát triển từ phong trào "Gia đình văn hóa mới" (1986) đến các tiêu chí chuẩn hóa theo Nghị định số 122/2018/NĐ-CP. Nội dung cốt lõi của gia đình văn hóa được đúc kết thành bốn chuẩn mực: ấm no (điều kiện vật chất tối thiểu và bền vững); bình đẳng (ngang quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng, giữa các thành viên); tiến bộ (lối sống văn minh, tiếp thu khoa học công nghệ, chấp hành pháp luật); và hạnh phúc (hòa thuận, tôn trọng, yêu thương lẫn nhau).

1.2. Lý luận về phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa: Tiết này xác định khái niệm phụ nữ dưới góc độ sinh học - xã hội và tập trung vào vai trò người vợ, người mẹ trong gia đình. Phụ nữ được nhìn nhận là "hạt nhân của tế bào gia đình", giữ sứ mệnh "người thầy đầu tiên", dung hòa giữa các giá trị đạo đức truyền thống ("công, dung, ngôn, hạnh", thủy chung, cần cù) với các phẩm chất của người phụ nữ thời đại mới (tri thức, tự chủ kinh tế, tham gia quản lý xã hội). Khóa luận khẳng định vai trò của phụ nữ trong việc duy trì hạnh phúc gia đình, tổ chức kinh tế hộ, nuôi dạy con cái và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.

Chương 2. Thực trạng và giải pháp phát huy vai trò của người phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Vĩnh Long hiện nay

Chương 2 phản ánh thực tế địa phương và đề xuất các giải pháp khả thi thông qua ba tiết nội dung:

2.1. Khái quát về tỉnh Vĩnh Long và đặc điểm gia đình, phụ nữ ở tỉnh Vĩnh Long:

  • Lịch sử - địa lý: Vùng đất hình thành qua các mốc lịch sử từ Dinh Trấn Biên, Dinh Phiên Trấn (1698), Dinh Long Hồ (1732) đến khi vua Minh Mạng đặt tên tỉnh Vĩnh Long (1832). Hiện nay, tỉnh gồm 8 đơn vị hành chính (thành phố Vĩnh Long, thị xã Bình Minh và 6 huyện: Bình Tân, Long Hồ, Mang Thít, Tam Bình, Trà Ôn, Vũng Liêm) với 94 xã, 10 phường, 5 thị trấn; tổng diện tích tự nhiên 1.525,73 km².
  • Kinh tế - xã hội: Năm 2022, GRDP tỉnh ước tăng 8,2%; tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 793 triệu USD (tăng 38%); có 67/87 xã đạt chuẩn nông thôn mới; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế ước đạt trên 92%.
  • Đặc điểm gia đình: Toàn tỉnh có 298.391 hộ gia đình (năm 2019), quy mô bình quân 3,4 người/hộ. Hộ gia đình hạt nhân chiếm ưu thế (hộ 2 người: 19,6%; hộ 3 người: 23,3%; hộ 4 người: 23%). Tỷ lệ hộ có nhà ở kiên cố và bán kiên cố đạt 89,2%; tỷ lệ dùng nước máy sinh hoạt đạt 88,6%.
  • Đặc điểm phụ nữ: Phụ nữ chiếm 50,73% dân số toàn tỉnh (522.048 người năm 2021) và chiếm 45,72% lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên (266.992 người). Tỉnh có 25 dân tộc cùng sinh sống, trong đó phụ nữ dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ đáng kể (phụ nữ Khmer chiếm 51,8% dân số Khmer toàn tỉnh; phụ nữ Hoa chiếm 48,7% dân số Hoa). Trong lịch sử kháng chiến, tỉnh có 47 cá nhân được phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có 7 nữ anh hùng.

Bảng tổng hợp một số chỉ tiêu dân số, lao động và gia đình tại tỉnh Vĩnh Long theo các nguồn số liệu được trích dẫn trong khóa luận:

Tiêu chí thống kê Số liệu / Tỷ lệ Nguồn trích dẫn trong văn bản
Dân số nữ toàn tỉnh (năm 2021) 522.048 người (chiếm 50,73% dân số) Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Long
Lao động nữ từ 15 tuổi trở lên (năm 2021) 266.992 người (chiếm 45,72% tổng lao động) Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Long
Tổng số hộ gia đình (năm 2019) 298.391 hộ (bình quân 3,4 người/hộ) Tổng điều tra dân số và nhà ở 2019
Tỷ lệ hộ đạt danh hiệu Gia đình văn hóa (năm 2000) 33,83% Báo cáo tổng kết 20 năm phong trào TDĐKXDĐSVH
Tỷ lệ hộ đạt danh hiệu Gia đình văn hóa (năm 2020) 96,8% Báo cáo tổng kết 20 năm phong trào TDĐKXDĐSVH
Tỷ lệ ấp, khóm, khu đạt chuẩn văn hóa (năm 2020) 99,4% Báo cáo tổng kết 20 năm phong trào TDĐKXDĐSVH
Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều (2015 so với 2021) Giảm từ 6,26% (2015) xuống 2,01% (2021) Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Long

2.2. Thực trạng và nguyên nhân thực trạng vai trò của người phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Vĩnh Long: Khóa luận phân tích các mặt hoạt động cụ thể của phụ nữ: tham gia phát triển kinh tế gia đình (trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ); đảm nhiệm chức năng nuôi dạy con cái và chăm sóc sức khỏe thành viên; giữ gìn nền nếp gia phong, lối sống văn hóa và phòng chống các tệ nạn xã hội. Đồng thời, văn bản chỉ rõ các nguyên nhân tồn tại của tình trạng bất bình đẳng giới và bạo lực gia đình xuất phát từ định kiến giới truyền thống, áp lực kinh tế và công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật tại một số cơ sở còn mang tính hình thức.

2.3. Giải pháp phát huy vai trò của người phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Vĩnh Long hiện nay: Nội dung đề xuất được phân định rõ thành ba nhóm giải pháp gắn liền với từng chủ thể:

  • Về phía Đảng bộ, chính quyền tỉnh Vĩnh Long: Tăng cường lãnh đạo, hoàn thiện chính sách an sinh xã hội; đẩy mạnh tuyên truyền Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới; tổ chức các chương trình hỗ trợ vốn, dạy nghề và tạo việc làm cho lao động nữ.
  • Về phía các thành viên trong gia đình: Nâng cao ý thức bình đẳng giới; chia sẻ công việc nội trợ và chăm sóc con cái; xóa bỏ tư tưởng gia trưởng, tôn trọng tiếng nói và quyền quyết định của phụ nữ trong các vấn đề lớn của gia đình.
  • Về phía bản thân người phụ nữ: Tự giác học tập nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn và kỹ năng sống; chủ động xây dựng tính độc lập, tự chủ về kinh tế; sắp xếp hài hòa giữa lao động xã hội và chăm sóc tổ ấm gia đình.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả nghiên cứu, khóa luận đã cung cấp một bức tranh toàn diện về phong trào xây dựng gia đình văn hóa tại tỉnh Vĩnh Long thông qua hệ thống dẫn chứng thực nghiệm:

  • Tỷ lệ hộ gia đình đạt chuẩn văn hóa tăng trưởng từ 33,83% (năm 2000) lên 96,8% (năm 2020).
  • Tỷ lệ ấp, khóm, khu văn hóa đạt 99,4% vào năm 2020; có 67/73 xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới (đạt tỷ lệ 91,78%) và 13/20 phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị.
  • Điều kiện sống của các hộ gia đình có phụ nữ tham gia quản lý kinh tế được cải thiện rõ rệt: 89,2% hộ có nhà kiên cố hoặc bán kiên cố, 88,6% hộ tiếp cận nước máy hợp vệ sinh; tỷ lệ nghèo đa chiều toàn tỉnh giảm mạnh từ 6,26% (2015) xuống 2,01% (2021).

Về giải pháp, công trình đã xây dựng hệ thống 3 nhóm giải pháp đồng bộ gắn với ba chủ thể: cấp ủy/chính quyền địa phương, các thành viên gia đình và cá nhân người phụ nữ. Các giải pháp gắn trực tiếp với đặc thù kinh tế nông nghiệp - dịch vụ và cơ cấu dân số đa dân tộc (Kinh, Khmer, Hoa) của tỉnh Vĩnh Long.

Về mặt đóng góp khoa học:

  • Ý nghĩa lý luận: Hệ thống hóa toàn diện các khái niệm, chức năng gia đình, tiêu chuẩn gia đình văn hóa và khung lý thuyết về vai trò của phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • Ý nghĩa thực tiễn: Khóa luận là công trình đầu tiên tại địa phương nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của phụ nữ Vĩnh Long trong xây dựng gia đình văn hóa trong mốc thời gian 2018 - 2022; cung cấp các cứ liệu thực chứng phục vụ hoạch định chính sách công tác gia đình và phong trào phụ nữ tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số điểm giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu và điều kiện khảo sát thực tế:

  • Về phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn không gian khảo sát trong phạm vi ranh giới hành chính tỉnh Vĩnh Long và mốc thời gian trong 5 năm (2018 - 2022), do đó chưa phản ánh toàn diện sự biến đổi dài hạn hoặc tương quan so sánh với các tỉnh lân cận thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Về mặt hạn chế nghiên cứu: Tác giả tự đánh giá khóa luận được thực hiện trong phạm vi năng lực nghiên cứu của sinh viên, khó tránh khỏi những thiếu sót về mặt tư liệu thực tiễn và một số khía cạnh phân tích chuyên sâu cần được tiếp tục bổ sung, chỉnh sửa.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng nghiên cứu đối sánh vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa giữa các tiểu vùng sinh thái (vùng chuyên canh cây ăn trái, vùng lúa, vùng ven sông) hoặc đi sâu phân tích theo lát cắt dân tộc học (phụ nữ dân tộc Khmer, Hoa) trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long trong giai đoạn phát triển mới.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng và mục đích cụ thể:

  • Đối với sinh viên, học viên: Tài liệu phục vụ trực tiếp cho quá trình học tập, nghiên cứu các học phần chuyên ngành như Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xã hội học gia đình, Xã hội học giới, Đạo đức học và Giáo dục học chính trị.
  • Đối với cán bộ làm công tác đoàn thể, xã hội: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tiễn cho cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp, cán bộ phụ trách phong trào xây dựng đời sống văn hóa, cán bộ ngành Văn hóa - Thông tin tại tỉnh Vĩnh Long trong việc xây dựng kế hoạch tuyên truyền, phòng chống bạo lực gia đình và triển khai phong trào thi đua "Giỏi việc nước, đảm việc nhà".
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất của công trình là hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn xây dựng gia đình văn hóa từ năm 1975 đến nay (tiêu biểu là Nghị định 122/2018/NĐ-CP) và bảng số liệu thực chứng về dân số, lao động, nhà ở của tỉnh Vĩnh Long.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật nào hiện hành để xác định tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu "Gia đình văn hóa"?
Khóa luận căn cứ trực tiếp vào Nghị định số 122/2018/NĐ-CP ngày 17/09/2018 của Chính phủ quy định về xét tặng danh hiệu "Gia đình văn hóa"; "Thôn văn hóa", "Làng văn hóa", "Ấp văn hóa", "Bản văn hóa", "Tổ dân phố văn hóa" với 3 tiêu chuẩn định lượng và định tính cụ thể.

Tỷ lệ hộ đạt danh hiệu Gia đình văn hóa tại tỉnh Vĩnh Long đã chuyển biến như thế nào qua 20 năm (2000 - 2020)?
Theo số liệu từ Hội nghị tổng kết 20 năm phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" được trích dẫn trong khóa luận, năm 2000 toàn tỉnh chỉ có 33,83% hộ đạt chuẩn gia đình văn hóa; đến năm 2020 con số này đã tăng lên 96,8%. Đồng thời, tỷ lệ ấp, khóm, khu đạt chuẩn văn hóa cũng tăng lên mức 99,4%.

Cơ cấu dân số và lao động nữ tại tỉnh Vĩnh Long năm 2021 được ghi nhận ra sao?
Năm 2021, tổng dân số nữ của tỉnh là 522.048 người (chiếm 50,73% dân số toàn tỉnh). Lực lượng lao động nữ từ 15 tuổi trở lên là 266.992 người (chiếm 45,72% tổng lực lượng lao động của tỉnh), tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn với các ngành nghề trồng trọt, chăn nuôi, thủ công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.

Khóa luận kết hợp những nhóm phương pháp nghiên cứu cụ thể nào?
Tác giả sử dụng phương pháp biện chứng duy vật kết hợp hai nhóm phương pháp: nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận (phương pháp lịch sử, đọc và nghiên cứu tài liệu, phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp) và nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn (quan sát khoa học, điều tra bằng phiếu câu hỏi, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn).

Hệ thống giải pháp phát huy vai trò của phụ nữ trong khóa luận được chia thành các nhóm nào?
Hệ thống giải pháp được cấu trúc thành 3 nhóm rõ rệt: (1) Nhóm giải pháp về phía Đảng bộ, chính quyền tỉnh Vĩnh Long; (2) Nhóm giải pháp về phía các thành viên trong gia đình; và (3) Nhóm giải pháp về phía bản thân người phụ nữ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trương Thị Trúc Ly là công trình nghiên cứu chuyên ngành Giáo dục Chính trị được tổ chức nghiêm túc, kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối của Đảng với các số liệu thực chứng tại tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2018 - 2022. Công trình đã làm rõ bốn chuẩn mực của gia đình văn hóa, khẳng định vị trí "hạt nhân" của người phụ nữ trong tổ chức kinh tế hộ, chăm sóc, giáo dục con cái và xây dựng lối sống tiến bộ. Đồng thời, các giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ giữa công tác quản lý nhà nước, sự sẻ chia của các thành viên gia đình và nỗ lực vươn lên của chính bản thân người phụ nữ tại địa phương.