phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục. Khóa luận có kết cau gom: 02 chương, 04 tiết. PHAN NOI DUNG CHUONG 1. VAI TRÒ CUA PHU NU TRONG GIAO DUC GIA DINH - NHUNG VAN DE LÍ LUẬN CHUNG 1.
KHÁI NIỆM VA NOI DUNG CƠ BAN TRONG GIÁO DUC GIA ĐÌNH 1. Khái niệm gia đình, giáo dục gia đình Khái niệm gia đình “Gia đình” từ lâu đã trở thành một khái niệm quen thuộc va gần gũi đổi với mọi cá nhân. Trải qua tiến trình biến đối của lịch sử xã hội, khái niệm gia đình cũng có nhiều biến đôi, mỗi giai đoạn có những khái niệm khác nhau. Khái niệm gia đình được rất nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu dé cập trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: triết học, văn hóa, xã hội, tâm lý học,.
Tiếp cận theo khía cạnh nghiên cứu của Chủ nghĩa xã hội khoa học, có thẻ kẻ đến một số khái niệm “gia đình” như: Trong tác phẩm “Hé tư tưởng Đức”, khí đề cập đến vấn dé gia đình C. Mác và Angghen đã nêu rang: “Quan hệ thứ ba tham dự ngay tir đầu vào quá trình phát triển lich sử: hằng ngày tái tạo ra đời song của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác. sinh sôi nây nở - đó là quan hệ giữa chồng vả vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình” (C. Mác va Ang ghen, 1995, Todn rập, tập 3, Tr.
Trong tác phẩm “Nguén gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nha nước” Angghen đã viết: “Những danh hiệu như cha, con, anh em và chị em không phải chỉ đơn thuần là những danh hiệu tôn kính ma con bao hàm những nghĩa vụ hoàn toàn rõ rệt và rất nghiêm túc của người ta đối với nhau và toàn bộ những nghĩa vụ đó hợp thành một bộ phận trọng yếu trong chế độ xã hội của những người dan đó" (C. Mác và Ang ghen. 1995, 7oản tập, tập 21, Tr. Ngoài ra, trong tác pham Angghen còn cho rằng: khái niệm gia đình được gắn với hôn nhân.
Gia đình đòi hỏi phải có sự liên kết giữa các cá thẻ trong quá trình thỏa man không chỉ nhu cầu tính dục, mà còn cả nhu câu ăn uống, sinh hoạt, giáo dục và tinh cảm. 9 Theo Từ điển chủ nghĩa cộng sản khoa học, NXB. Tiên bộ - Mátxcơva xuất bản năm 1986 (bản Tiếng ViệU) gia đình được định nghĩa là: “Gia đình là một hình thức cộng đồng những người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và quan hệ máu mủ. Bên cạnh những chức năng sinh vật học đặc thù là tái sản xuất ra loài người, gia đình đồng thời còn là hình thức cộng đồng xã hội của con người và với tính cách đó, gia đình thực hiện các chức năng kinh tế và tinh than quan trọng” (Từ điển chủ nghĩa cộng sản khoa học, 1986, Tr.
Theo Giáo trình Giáo dục gia đình biên soạn năm 2005 có quan niệm: “Theo nhà xã hội học Nga T. Phanaxeva thì có ba loại quan niệm về khái niệm gia đình là: loại quan niệm thứ nhất: Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội có liên kết với nhau bằng chỗ ở, bằng một ngân sách chung và các mối quan hệ ruột thịt. Loại quan niệm thứ hai: Gia đình là một nhóm nhỏ có quan hệ gắn bó giúp đỡ lẫn nhau bằng tình cảm và trách nhiệm. Loại quan niệm thứ ba: Gia đình hiện đại là một nhóm xã hội bao gồm cha mẹ và con cái của một vài thé hệ, các thành viên trong gia đình có mỗi quan hệ ràng buộc vẻ vật chất, tỉnh thần theo những nguyên tắc, mục đích sông như nhau về các vấn đề chủ yếu trong sinh hoạf(Giáo trình Giáo dục gia đình, 2005.
Theo Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học do Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn năm 2021 có định nghĩa: “Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành, duy trì và cùng cô chủ yeu dựa trên cơ sở hôn nhân, quan hệ huyết thong và quan hệ nuôi đưỡng, cùng với những quy định vẻ quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình” (Bộ Giáo dục và Đào tao, 2021, Tr. Theo quy định tại Khoản 2, Diéu 3, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định gia đình như sau: *Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền va nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật nay”. Hau hết những khái niệm trên điều đề cập gia đình là một cộng đồng người hay cộng đồng xã hội đặc biệt hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết 10 thống, quyết định đến sự ton tại và phát triển của xã hội. Con người xuất phát từ hai nhu cau cơ bản: một 1a, nhu cau bảo ton và duy trì nòi giống; hai là, nhu cầu nương tựa nhau dé sinh tồn, từ đó có sự xuất hiện các hình thức quan tụ giữa các cá nhân nam giới và nữ giới với nhau.
Trải qua quá trình phát triển của xã hội đã hình thành những hình thức tô chức đời sống được gọi là “gia đình". Trong lịch sử nhân loại đã trải qua nhiều bình thức gia đình với những đặc diém, cách thức tô chức khác nhau, có thé ké đến các hình thức như: Äfệt /a, gia đình tập thẻ. Gia đình tập thé dựa trên cơ sở hôn nhân tập thé. Gia đình tập thể bao gồm các kiểu gia đình như: gia đình huyết tộc, gia đình Punaluan (bạn thân), gia đình cặp đôi (đối ngẫu).
Hai là, gia đình cá thé, đây là gia đình dựa trên cơ sở hôn một vợ, một chong. Gia đình cá thé có quan hệ hôn nhân chặt chẽ hơn gia đình tập thê và được xem lả dấu hiệu của budi đầu thời đại văn minh. Qua các khái niệm gia đình còn cho thấy được cơ sở hình thành gia đình là các mối quan hệ cơ bán như: quan hệ hôn nhân (quan hệ vợ chồng), quan hệ huyết thống (quan hệ cha mẹ va con cái), quan hệ nuôi dưỡng, giáo dục,. Các mối quan hệ nảy ton tại song song trong gia đình, gắn bó mật thiết và liên kết với nhau.
Đồng thời, chúng còn chịu sự ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau bởi nghĩa vụ. quyên lợi va trách nhiệm của mỗi cá nhân trong gia đình được quy định bằng pháp luật hay các giá trị đạo đức con người. Đề làm rõ hơn về gia đình, đỏi hỏi phải phân tích những nét đặc trưng của các môi quan hệ trong gia đình, cụ thẻ như sau: Thứ nhất, hôn nhân và quan hệ hôn nhân. Đây là mỗi quan hệ cơ bản quyết định sự hình thành, tồn tại và phát triển của gia đình.
Hôn nhân là một hình thức quan hệ tính giao giữa nam và nữ nhăm thỏa mãn các nhu cầu tâm sinh lý, tình cảm, tái sản xuất ra con người dé duy trì và phát triển nòi giống. Trong từng giai đoạn lich sử khác nhau, hôn nhân và quan hệ hôn nhân cũng có sự thay đôi nhất định vẻ hình thức, tinh chat và sắc thái của nó. Tuy nhiên, da lịch sử có biến đồi thì hôn nhân và quan hệ hôn nhân phải luôn dựa trên cơ sở tỉnh yêu nam nữ tự nguyện, bình đăng đồng thời thể hiện nghĩa vụ và quyền lợi trên mặt pháp lý thông qua các yếu tố về xã hội, giới tính và tôn giáo. Thứ hai, huyết thong và quan hệ huyết thông.
Day là mỗi quan hệ cơ bản, đặc trưng và quan trọng nhất của gia đình. Huyết thông là vấn đề quan trọng đề nhìn nhận những cá nhân cùng gia đình, có vai trò quan trọng trong van dé duy trì nòi giống hay quy định việc kế thừa tai san. Quan hệ huyết thông là quan hệ đặc biệt, không thê thay đôi giữa các thành viên cùng thuộc một dòng máu. Trong thời kỳ nguyên thủy, huyết thông của người mẹ được dé cao; thời kỳ chiếm hữu nô lệ cho đến nay huyết thông của người cha dan chiếm vị trí quan trọng.
Va du lịch sử có phát triển, trai qua các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, thì huyết thong và quan hệ huyết thông vẫn là đặc trưng quan trọng nhất trong gia đình. Thứ ba, quan hệ quân tu trong cùng một không gian sinh tốn. Ngay từ buôi đầu hình thành gia đình xuất phát từ nhu cầu nương tựa nhau dé sinh tồn, đã làm xuất hiện hình thức quan tụ giữa nam va nữ, từ đó hình thành nên gia đình. Con người muốn ton tại trước các tác động của tự nhiên, họ phải quan tụ trong những không gian sinh tôn nhất định.
Ban đầu không gian sinh tôn, sinh hoạt của các cộng đồng gia đình chi là những hang đá, hốc cây,. về sau khi có sự phát triển, tiến bộ thì không gian ấy trở thành những ngôi nhà. Xã hội ngày càng phát triển hiện đại, khái niệm quan tu trong củng một không gian sinh ton có nhiều thay đôi về hình thức va ý nghĩa. Tuy nhiên, đây vẫn là một đặc trưng quan trọng của gia đình, đây là nơi các thành viên quây quan bên nhau, chăm sóc, chia sẻ và củng cô tình cảm gia đình.
Va ngày nay, không gian sinh tồn hay nói cách khác là nơi cư trú của gia đình ngày càng trở nên tiện nghi, hiện đại hơn nhờ những tiền bộ của khoa học và công nghệ. Thứ tư, quan hệ nuôi dưỡng giữa các thành viên và các thé hệ thành viên trong gia đình. Từ khi sinh ra, mỗi cá nhân đã được chăm sóc, nuôi dưỡng trong gia đình, quá trình ấy diễn ra liên tục, có sự tiếp nỗi giữa các thế hệ với nhau. Nuôi dưỡng chính là trách nhiệm, nghĩa vụ và cũng là quyền lợi thiêng liêng trong gia đình.
Nuôi dưỡng không đơn thuần là sự chăm sóc của cha mẹ dành cho con cái, của ông bà dành cho con chau, giữa anh chị dành cho các em; mà nó còn là hoạt động theo chiều ngược lại, đó là sự nuôi dưỡng, chăm sóc của con chau danh cho ông ba, của con cái danh cho cha mẹ hay những thành viên khỏe mạnh, thuận lợi về thé chat, tỉnh than hay kinh tế đành cho những thành viên khó khăn, bat hạnh trong gia đình. Xã hội ngày càng phát triển, các chính sách về chăm sóc y tế, bảo hiểm, dich vụ chăm sóc người cao tuôi,. xuất hiện ngày càng đa dang và chất lượng, tuy nhiên van không thé thay thế được hoàn toàn sự chăm sóc, nuôi dưỡng, yêu thương của các thành viên trong gia đình dành cho nhau.