Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1986 cùng tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã tạo ra những biến chuyển sâu rộng trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội tại Việt Nam. Trong tiến trình đó, Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá lớn của cả nước, nơi có tốc độ đô thị hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh chóng. Gia đình, với tư cách là một tế bào của xã hội, chịu sự tác động trực tiếp và nhạy cảm trước những biến động này, dẫn đến những thay đổi rõ nét về quy mô, loại hình cũng như các mối quan hệ nội bộ giữa các thành viên.

Vấn đề đặt ra trong thực tiễn là xác định vị trí và phương thức thực hiện vai trò của người phụ nữ trong gia đình tại Thành phố Hồ Chí Minh sao cho phù hợp với lối sống công nghiệp hiện đại, đồng thời bảo đảm mục tiêu xây dựng gia đình no ấm, hoà thuận, tiến bộ và hạnh phúc. Đề tài được tác giả lựa chọn nhằm giải quyết yêu cầu lý luận và thực tiễn nêu trên, đồng thời phục vụ trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy thuộc chuyên ngành đào tạo.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khoá luận được xác định cụ thể:

  1. Trình bày cơ sở lý luận về gia đình và vai trò của người phụ nữ trong gia đình Việt Nam.
  2. Làm rõ xu hướng biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Thành phố Hồ Chí Minh dưới tác động của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của họ trong xây dựng gia đình mới.

Đối tượng nghiên cứu của công trình là vai trò của người phụ nữ trong gia đình (bao gồm các chức năng tái sản xuất con người, giáo dục, kinh tế, tâm lý - tình cảm và tổ chức đời sống). Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh; phạm vi thời gian bao quát tiến trình đổi mới từ năm 1986 đến giai đoạn đầu những năm 2000 (thời điểm khoá luận hoàn thành năm 2005).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Tác giả vận dụng quan điểm của Ph. Ăng-ghen về hai phương diện quyết định của đời sống trực tiếp: sản xuất ra tư liệu sinh hoạt và sản xuất ra bản thân con người; cùng luận điểm của V.I. Lênin về điều kiện giải phóng phụ nữ gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất đại công nghiệp xã hội chủ nghĩa. Khái niệm gia đình được tiếp cận như một thiết chế xã hội đặc thù và một nhóm xã hội nhỏ liên kết bằng quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng cùng các ràng buộc pháp lý, đạo đức.

Văn bản pháp luật và chủ trương chính trị được tác giả sử dụng làm cơ sở gồm:

  • Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Đất đai.
  • Nghị quyết số 04/NQ/TW ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ.
  • Quyết định số 72/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ lấy ngày 28 tháng 6 hàng năm là "Ngày gia đình Việt Nam".
  • Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng; Dự thảo Kế hoạch vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp duy vật biện chứng xuyên suốt quá trình tiếp cận vấn đề.
  • Phương pháp lôgíc kết hợp với phương pháp lịch sử.
  • Phương pháp phân tích gắn liền với tổng hợp dữ liệu lý luận và thực tiễn.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu số liệu qua các mốc thời gian và không gian.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp, bao gồm Niên giám thống kê Thành phố Hồ Chí Minh (các năm 1999, 2000, 2004), số liệu của Tổng cục Thống kê, Báo cáo tổng kết của Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh (1998-2000, 2001), số liệu điều tra của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 1993, cùng kết quả khảo sát từ các công trình nghiên cứu xã hội học gia đình của các tác giả Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn, Lê Quý Đức, Vũ Thị Huệ, Nguyễn Minh Hoà.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Gia đình và vai trò của người phụ nữ trong gia đình Việt Nam - Cơ sở lí luận

Chương này tập trung làm rõ nội hàm khái niệm gia đình và phân tích 4 đặc điểm cơ bản của gia đình Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi:

  • Đặc điểm 1: Tính ổn định tương đối dựa trên hôn nhân hợp pháp. Dù số vụ ly hôn có xu hướng gia tăng (từ 22.634 vụ năm 1991 lên 49.711 vụ năm 1996), tỷ lệ kết hôn ở mức 5,9‰ và ly hôn ở mức 0,3‰ cho thấy gia đình Việt Nam vẫn giữ được độ bền vững cao hơn nhiều so với các quốc gia như Mỹ (50%) hay Pháp (43,18%).
  • Đặc điểm 2: Sự phổ biến của mô hình gia đình hạt nhân quy mô nhỏ. Gia đình hai thế hệ chiếm gần 2/3 tổng số hộ, trong khi gia đình từ ba thế hệ trở lên chiếm chưa tới 1/4; quy mô trung bình giảm từ 4,92 người/hộ năm 1986 xuống 4,6 người/hộ năm 1999.
  • Đặc điểm 3: Vai trò của người phụ nữ có vị trí quan trọng và ngày càng được tôn trọng. Tác giả đối chiếu tính chất gia đình truyền thống qua "Quốc triều hình luật" (thời Lê) và "Hoàng Việt luật lệ" (thời Nguyễn) để chứng minh địa vị của phụ nữ luôn được pháp luật bảo vệ ở mức độ nhất định, nay tiếp tục được mở rộng quyền bình đẳng trong các quyết định hệ trọng.
  • Đặc điểm 4: Sự khác biệt lớn giữa thành thị và nông thôn về thu nhập và lối sống. Thu nhập bình quân đầu người tại đô thị gấp 3,19 lần nông thôn năm 1994 và tăng lên 3,5 lần năm 1996; tỷ lệ nghèo chuẩn WB tại nông thôn là 45% (Hà Tĩnh chiếm 60%), trong khi mức chung cả nước là 37%.

Về mặt chức năng, tác giả luận giải 4 vai trò nền tảng của phụ nữ: tái sản xuất con người; giáo dục nhân cách thế hệ trẻ; tham gia đóng góp kinh tế; và thoả mãn nhu cầu tâm lý, tình cảm.

Tiêu chí phân công và đóng góp kinh tế gia đình Phụ nữ Nam giới
Tỷ lệ đóng góp tiền mặt vào quỹ gia đình 32,3% 67,7% (chủ yếu)
Tỷ lệ đóng góp công sức cho kinh tế gia đình 64,5% 30,8%
Tỷ lệ đảm nhiệm công việc nội trợ, việc nhà 70,0% 30,0%
Quỹ thời gian làm việc nhà trung bình mỗi ngày 3 giờ 30 phút 1 giờ 30 phút

Chương 2: Tác động của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Chương 2 phân tích bối cảnh đặc thù của Thành phố Hồ Chí Minh với diện tích khoảng 2.985 km², 24 quận huyện và dân số trên 5,1 triệu người (nữ chiếm 51,8%). Tác giả phân tích các yếu tố tác động:

  • Yếu tố chính trị: Thành phố ban hành các chính sách vì sự tiến bộ của phụ nữ; xây dựng 725 câu lạc bộ gia đình hạnh phúc với 75.000 thành viên; 303 phường xã triển khai 6 chuẩn mực gia đình văn hoá, công nhận 609.382 hộ đạt chuẩn.
  • Yếu tố kinh tế: GDP thành phố năm 1997 đạt 55.000 tỷ đồng, GNP đạt 1.119 USD/năm (gấp 3,5 lần mức bình quân cả nước); năm 2000 GNP đạt 1.365 USD/năm; năm 2003 công nghiệp tăng 15%, dịch vụ tăng 9,5%. Sự xuất hiện của các khu công nghiệp Sóng Thần, khu chế xuất Linh Trung thúc đẩy chuyển đổi loại hình gia đình (gia đình hạt nhân chiếm 76,6%, số con trung bình của nhóm tuổi 30 là 1,2 con).
  • Yếu tố văn hoá - xã hội: Sự đa dạng của cộng đồng cư dân (người Kinh chiếm 89%, cùng các dân tộc Hoa, Chăm, Khơme) tạo ra quan hệ gia đình cởi mở, bình đẳng hơn.

Về xu hướng biến đổi vai trò của người phụ nữ, tác giả chỉ ra các điểm chuyển biến:

  1. Đời sống kinh tế: Nữ giới chiếm 52% tổng lực lượng lao động đang làm việc tại thành phố (khoảng 1 triệu người). Thu nhập bình quân của phụ nữ tăng từ khoảng 1.000.000 đồng/người/tháng (năm 1999) lên 2.000.000 đồng/người/tháng (năm 2004), tiệm cận mức bình quân toàn thành phố.
  2. Giáo dục con cái: Chuyển từ áp đặt gia trưởng sang phương pháp làm bạn, đối thoại. Khảo sát tại Bình Chánh ghi nhận 64,2% phụ nữ chọn phương pháp giảng giải, thuyết phục; 42,8% phụ nữ thường xuyên trao đổi, hướng nghiệp cho con; người mẹ là đối tượng hàng đầu được con cái tìm đến khi cần lời khuyên.
  3. Tổ chức đời sống vật chất và tinh thần: Người phụ nữ giữ vai trò quản lý tài chính ("tay hòm chìa khoá"), trực tiếp tham gia bàn bạc các quyết định lớn như mua sắm nhà đất, định hướng hưởng thụ văn hoá qua báo đài, truyền hình và tổ chức du lịch gia đình.
Loại hình doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh Tỷ lệ lao động nữ tham gia (%)
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài 50,93%
Doanh nghiệp tư nhân 49,79%
Doanh nghiệp Nhà nước 49,22%
Công ty TNHH và Công ty Cổ phần 48,49%
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (liên doanh) 46,17%
Các loại hình doanh nghiệp khác 47,59%

Khảo sát tháng 9/1997 về mức độ tiếp nhận thông tin đại chúng hàng ngày của người dân thành phố cho thấy tỷ lệ phụ nữ xem truyền hình đạt 68,8% (nam giới đạt 70,4%), đọc báo đạt 27,5% (nam giới đạt 40,0%), và nghe đài phát thanh đạt 11,5% (nam giới đạt 13,6%). Về quyết định các chuyến đi xa của gia đình, khảo sát 600 hộ cho thấy 48% do cả hai vợ chồng cùng quyết định, 28,5% do người vợ quyết định và 23,5% do người chồng quyết định.

Chương 3: Phát huy vai trò của người phụ nữ trong xây dựng gia đình mới ở Thành phố Hồ Chí Minh thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Dựa trên quan điểm giải phóng phụ nữ của Chủ nghĩa Mác (giảm nhẹ lao động gia đình thông qua nền đại công nghiệp và dịch vụ xã hội hóa) và 4 mục tiêu phát triển của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả nêu bật các rào cản nội tại:

  • Trình độ học vấn và chuyên môn của lao động nữ còn thấp: tỷ lệ lao động nữ chưa biết chữ hoặc chỉ học xong tiểu học chiếm 56,55% tổng số lao động nữ (và chiếm 26,65% tổng lực lượng lao động toàn thành phố).
  • Lao động nữ không có chuyên môn kỹ thuật chiếm tới 80,75% tổng số lao động nữ; tại khu vực ngoại thành, chỉ có 30% tốt nghiệp trung học cơ sở, 10% tốt nghiệp trung học phổ thông và chỉ 3-4% có trình độ đại học.
  • Tỷ lệ phụ nữ đi khám sức khỏe định kỳ chỉ đạt 38,5%.

Tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Giải pháp 1: Nâng cao trình độ văn hoá, nghề nghiệp và năng lực tổ chức, quản lý. Đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố phối hợp với Hội Khuyến học và Hội Liên hiệp Phụ nữ xây dựng "Quỹ hỗ trợ học vấn và nghề nghiệp cho phụ nữ", mở các lớp đào tạo nghề cho lao động nữ khu vực chuyển đổi đô thị (Củ Chi, Cần Giờ).
  • Giải pháp 2: Kết hợp hài hoà giữa công việc gia đình và công việc xã hội. Người phụ nữ cần sắp xếp thời gian khoa học, tự tin nâng cao năng lực; đồng thời cần sự sẻ chia cụ thể về công việc nội trợ từ phía người chồng và sự trợ giúp của dịch vụ xã hội, thiết bị gia dụng hiện đại.
  • Giải pháp 3: Thực hiện dân số - kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc sức khoẻ và thúc đẩy bình đẳng giới. Tăng cường cung cấp dịch vụ y tế sinh sản, nâng cao nhận thức khám chữa bệnh định kỳ; phát huy trách nhiệm phối hợp của cả cha và mẹ trong giáo dục con cái; lồng ghép các tiêu chí bình đẳng giới vào cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư".

Kết quả và đóng góp

Khoá luận đã tổng hợp và lượng hoá bức tranh thực tế về sự chuyển dịch vai trò của phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá thông qua các kết quả cụ thể:

  • Khẳng định vai trò kinh tế độc lập của người phụ nữ: lực lượng lao động nữ chiếm 52% số lao động đang làm việc của toàn thành phố, tham gia xấp xỉ 50% trong mọi loại hình doanh nghiệp, đạt mức thu nhập trung bình 2.000.000 đồng/tháng năm 2004.
  • Làm rõ sự chuyển dịch căn bản trong cơ cấu gia đình đô thị: tỷ lệ gia đình hạt nhân đạt 76,6%, quy mô số con giảm xuống mức 1,2 con ở các cặp vợ chồng trẻ, thúc đẩy mối quan hệ bình đẳng giới trong việc đưa ra các quyết định chi tiêu lớn và định hướng giáo dục con cái.
  • Chỉ rõ thực trạng mâu thuẫn giữa yêu cầu nguồn nhân lực công nghiệp hoá với chất lượng lao động nữ tại chỗ (80,75% lao động nữ chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật).

Về giải pháp, công trình đưa ra các đề xuất gắn liền với chính sách an sinh xã hội địa phương, nhấn mạnh việc thành lập các quỹ khuyến học hỗ trợ nghề nghiệp và nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ.

Về đóng góp học thuật, tác giả tự nêu: đây là công trình bước đầu tập trung nghiên cứu chuyên biệt về vai trò của người phụ nữ trong gia đình tại địa bàn đô thị lớn nhất nước (Thành phố Hồ Chí Minh) dưới lăng kính tác động của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, khắc phục khoảng trống nghiên cứu của các công trình tổng quan trước đó để phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy bộ môn Giáo dục Chính trị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản khoá luận tự nhận định do thời gian nghiên cứu có hạn và năng lực nghiên cứu ban đầu của tác giả, công trình chưa bao quát hết mọi khía cạnh chuyên sâu về sự phân hoá giữa các nhóm phụ nữ đặc thù trên địa bàn đô thị. Về phương diện dữ liệu, nghiên cứu chủ yếu kế thừa và xử lý lại các nguồn số liệu điều tra thứ cấp từ giai đoạn 1993 đến 2004, chưa tự tiến hành được cuộc khảo sát xã hội học định lượng diện rộng độc lập.

Về hướng nghiên cứu tiếp, từ phạm vi nghiên cứu của đề tài, các nghiên cứu kế tiếp có thể đi sâu phân tích tác động của công nghiệp hoá đối với các nhóm đối tượng cụ thể hơn, như nữ công nhân nhập cư tại các khu chế xuất - khu công nghiệp, phụ nữ nông thôn ngoại thành chịu ảnh hưởng của quá trình thu hồi đất đô thị hoá, cũng như sự phát triển của các mô hình gia đình mới (gia đình độc thân, gia đình thể nghiệm) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Giá trị tham khảo

Khoá luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên và giảng viên thuộc các ngành: Giáo dục Chính trị, Xã hội học gia đình, Công tác xã hội, và Nghiên cứu Giới - Phát triển.

Phần có giá trị tham khảo cao nhất trong công trình gồm:

  • Hệ thống hoá cơ sở lý luận mácxít về các chức năng gia đình và giải phóng phụ nữ ở Chương 1, có thể sử dụng trực tiếp trong soạn thảo bài giảng môn Chủ nghĩa xã hội khoa học.
  • Tập hợp số liệu thống kê và dữ liệu khảo sát xã hội học thứ cấp ở Chương 2 về cơ cấu việc làm, thu nhập, phương pháp giáo dục con cái và mức độ tiếp cận truyền thông của phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1995-2004.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận cung cấp những số liệu nào về mức độ đóng góp kinh tế và thời gian làm việc nhà của phụ nữ trong gia đình Việt Nam? Theo các tài liệu được khóa luận trích dẫn, người phụ nữ đóng góp khoảng 32,3% tổng số tiền mặt của gia đình (đứng thứ hai sau người chồng). Về mặt công sức, phụ nữ đảm nhận tới 70% công việc nhà, đóng góp 64,5% công sức cho kinh tế gia đình (so với mức 30,8% của nam giới). Quỹ thời gian dành cho việc nhà của phụ nữ trung bình là 3 giờ 30 phút/ngày, gấp hơn hai lần so với nam giới (1 giờ 30 phút/ngày).

2. Tỷ lệ tham gia của lao động nữ vào các thành phần kinh tế tại TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn này ra sao? Lao động nữ chiếm 52% tổng lực lượng lao động đang làm việc tại thành phố (khoảng 1 triệu người). Xét theo loại hình doanh nghiệp, phụ nữ chiếm 50,93% trong doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; 49,79% trong doanh nghiệp tư nhân; 49,22% trong doanh nghiệp Nhà nước; 48,49% trong công ty TNHH/cổ phần; và 46,17% trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

3. Khảo sát tại huyện Bình Chánh chỉ ra thực tế nào về phương pháp giáo dục con cái của các bà mẹ? Kết quả khảo sát tại huyện Bình Chánh được dẫn trong khóa luận cho thấy: 64,2% ý kiến chọn phương pháp giảng giải, thuyết phục con trong từng tình huống cụ thể; 35,5% ý kiến cho rằng cần nghiêm khắc nhưng không nên đánh đập; và chỉ có 10,5% ý kiến tán thành việc dùng đến các biện pháp cứng rắn.

4. Những số liệu thực tế nào phản ánh rào cản về trình độ học vấn và chuyên môn của lao động nữ tại TP. Hồ Chí Minh? Khóa luận dẫn báo cáo cho biết: tỷ lệ lao động nữ chưa biết chữ hoặc mới tốt nghiệp tiểu học chiếm 56,55% tổng số lao động nữ của thành phố (chiếm 26,65% tổng lao động toàn thành phố). Đáng chú ý, có tới 80,75% lao động nữ không có chuyên môn kỹ thuật. Tại các huyện ngoại thành, chỉ có 30% lao động nữ tốt nghiệp cấp II, 10% tốt nghiệp cấp III và chỉ có khoảng 3 - 4% đạt trình độ đại học.

5. Quyết định tổ chức các chuyến đi xa hoặc du lịch của các gia đình tại TP. Hồ Chí Minh diễn ra như thế nào? Theo kết quả điều tra trên 600 hộ gia đình tại Thành phố Hồ Chí Minh được dẫn ở Chương 2, có 48% số hộ do cả hai vợ chồng cùng bàn bạc và quyết định chuyến đi; 28,5% do người vợ trực tiếp quyết định; và 23,5% do người chồng quyết định.

Kết luận

Khoá luận tốt nghiệp đã làm rõ thực trạng và xu hướng biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình tại Thành phố Hồ Chí Minh dưới tác động toàn diện của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các phân tích dữ liệu cho thấy quá trình phát triển kinh tế thị trường không làm suy giảm mà trái lại đã củng cố, nâng cao vị thế độc lập của phụ nữ về kinh tế, giáo dục và tổ chức đời sống gia đình. Hệ thống giải pháp được đề xuất tập trung vào nâng cao trình độ nghề nghiệp, phân công lao động bình đẳng và cải thiện sức khoẻ, góp phần cung cấp tài liệu phục vụ công tác giảng dạy lý luận chính trị và nghiên cứu thực tiễn đời sống gia đình đô thị.