Chương 1 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN 1. Khái niệm văn hóa tinh thần Khái niệm văn hóa Văn hóa là bộ phận quan trọng không thể tách rời trong đời sống của con người và của xã hội. Vậy văn hóa là gì?, nội dung ra sao, nó biểu hiện thế nào, là mối quan tâm của rất nhiều học giả trên thế giới.
Chỉ riêng việc định nghĩa thế nào là văn hóa cũng khó đi đến thống nhất. Đến nay, qua các công trình của các học giả, các tuyên bố của các tổ chức trong và ngoài nước đã có tới trên 400 định nghĩa về văn hóa. Khái niệm văn hóa xuất hiện ở Đông Á rất sớm. Theo Từ Hồng Hưng – nhà nghiên cứu của Trung Quốc trong bài “ Tổng luận về văn hóa” thì từ “ văn hóa” là do người Nhật Bản vào cuối thế kỷ XIX đã chuyển dịch từ chữ “ cultura” của Phương Tây mà dẫn vào Nhật, sau đó mới truyền qua Trung Quốc.
Lưu Hướng (Thời Tây Hán, 206 TCN), là người đầu tiên đưa ra định nghĩa về văn hóa. Trong sách Thuyết Uyển bài Chi Vũ, Ông viết: “ Bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng văn đức sau mới dùng vũ lực. Phàm dùng vũ lực đối phó kẻ bất phục tùng, dùng văn hóa không thay đổi thì sau đó chinh phạ ” [12, 49]. Ở đây, văn hóa hiểu như cách thức điều hành xã hội bằng “ Văn trị” để “giáo hóa” con người, đối lập với việc dùng vũ lực.
“Văn trị” là dùng chế độ lễ nhạc điển chương, tức cái hay cái đẹp để giáo dục và cảm hóa con người. Chung quy lại tại Á Đông, trong đó có Việt Nam, quan điểm trên tồn tại cho đến cuối thế kỉ XX. 9 Ở phương Tây, khái niệm văn hóa ra đời tương đối muộn, khoảng thế kỷ XVII, bắt nguồn từ tiếng Latinh “ cultura ” có ý nghĩa là vun trồng, cày xới, chăm bón đất đai để trồng trọt tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu cần thiết của con người. Về sau, từ “ cultura ” chuyển thành nuôi dưỡng, vun trồng tinh thần, trí tuệ.
Đó Là quá trình giáo dục, bồi dưỡng tinh thần, trí tuệ cho con người. Giữa thế kỷ XIX, các ngành khoa học như: nhân loại học, xã hội học, dân tộc học,….phát triển mạnh ở Châu Âu, khái niệm văn hóa cũng do đó mà có biến đổi, dần dần có hàm nghĩa hiện đại, hơn thế, ngày càng trở thành thuật ngữ thường dùng của ngành khoa học xã hội. Khái niệm hiện đại về văn hóa lần tiên được Edward Burnet Taylor, nhà nhân chủng học người Anh định nghĩa trong cuốn “ Văn hóa nguyên thủy” xuất bản tại London năm 1871. Theo đó, “ Văn hóa theo nghĩa rộng nhất của nó, là toàn bộ phức thể, bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng tập quán khác nhau mà con người có được với tư cách là một thành viên xã hội” [68, 13].
Về sau các học giả phương Tây đã định nghĩa văn hóa trên nhiều góc độ khác nhau. Tại hội nghị Venise năm 1970 về các chính sách văn hóa do Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đề xướng, người ta đã đưa ra một khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng được nhiều người trong giới khoa học thừa nhận : “ Văn hóa không tự giới hạn trong các hoạt động nghệ thuật mà bao gồm toàn bộ các hoạt động của con người, cho phép con người tự định vị mình trong không gian và thời gian, tạo ra chìa khóa để giải thích thế giới, khả năng giao lưu và sáng tạo” [62, 22]. Tại Lễ phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa tổ chức tại Pari ngày 21/1/1998, Tổng giám đốc UNESCO - Federieo Mayor đã đưa định nghĩa văn hóa rằng: “ Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo 10 trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc ”[68,23].
Với ý nghĩa đó, văn hóa có mặt trong bất cứ hoạt động hoạt động nào của con người, dù đó là hoạt động sản xuất vật chất sản xuất tinh thần, hay trong quan hệ giao tiếp ứng xử xã hội, trong thái độ đối với tự nhiên. Trong quan niệm của C.Mác và Ăngghen thì bản thân con người luôn chứa đựng và sáng tạo văn hóa, văn hóa là sản phẩm hoạt động của con người trong mối quan hệ tương tác với tự nhiên và xã hội. Ngày nay, đã có rất nhiều định nghĩa về văn hóa. Trong đó, khái niệm văn hóa của UNESCO hướng vào cái cơ bản nhất và cũng là cái chung tốt đẹp của mọi nền văn hóa là xu hướng hoàn thiện và tôn vinh con người.
Ở Việt Nam, nhận thức nội dung khái niệm văn hóa là một quá trình. Căn cứ vào nghĩa gốc của từ “ Culture” trong tiếng la – tinh, G.S Vũ Khiêu, nhà văn hóa học Việt Nam, cho rằng: “ Văn hóa thể hiện trình độ được vun trồng của con người, của xã hội. Văn hóa là trạng thái con người ngày càng tách khỏi thế giới động vật, ngày càng xóa bỏ những đặc tính của động vật, để khẳng định những đặc tính của con người”[48,8]. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở kế thừa sâu sắc truyền thống của dân tộc và sự chắt lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại đã đưa ra một định nghĩa rằng: “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn , ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [58,431]. 11 Từ khi Việt Nam hưởng ứng Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa do UNESCO phát động, khái niệm văn hóa thực sự được nhận thức lại với đầy đủ nội dung ngữ nghĩa của nó. Nhiều học giả đi sâu nghiên cứu nội dung cơ bản của khái niệm văn hóa.
Trần Ngọc Thêm trong cuốn "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam" ( năm 1997), đưa ra một định nghĩa như sau: “ Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất- tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên- xã hội của mình” [79]. Theo đó, văn hóa được tác giả tiếp cận theo nghĩa rộng nhất bao gồm cả giá trị vật chất – tinh thần được hình thành từ khi con người biết sáng tạo nghĩa là hình thành cùng với sự hình thành loài người. Qua một số định nghĩa vừa dẫn, nhận thấy cốt lõi của văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất – tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình con người làm nên lịch sử của mình, là cái mà dựa vào đó từng dân tộc khẳng định bản sắc của mình. Tuy tiếp cận văn hóa ở những góc độ khác nhau, nhưng nhìn chung, những nội dung căn cốt nhất của khái niệm văn hóa được nhiều tác giả đề cập bao gồm những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, văn hóa là cái đặc hữu của con người, do con người và vì con người.
Con người sáng tạo ra những giá trị văn hóa đồng thời con người lớn lên với những giá trị văn hóa của mình. Thứ hai, văn hóa phải là cái mang giá trị. Gía trị nói ở đây là căn cứ vào “ Ý nghĩa con người, ý nghĩa xã hội và văn hóa” của những sự vật hiện tượng nhất định trong hiện thực. Điều đó, cũng có nghĩa là chất lượng sự vật và hiện tượng, tức là tính chất và mức độ hữu ích của chúng để đáp ứng nhu cầu phát triển nhất của con người và xã hội trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.S Vũ Khiêu viết: “ Chúng ta quan niệm giá trị là những thành tựu của con người góp vào sự đi lên của lịch sử xã hội, phục vụ cho lợi ích và hạnh 12 phúc của con người” [48,8].
Những gì trái với lợi ích và tiến bộ xã hội, gây thiệt hại cho lợi ích và hạnh phúc của con người thì không được coi là giá trị, là văn hóa. Xét về bản chất, văn hóa chỉ có bổ dưỡng đối với con người, làm tăng trưởng cái đúng, cái tốt, cái đẹp nơi con người. Cái độc hại đối với con người, cái hạ thấp và làm xấu con người không phải là văn hóa mà là phản văn hóa. Thứ ba, cái chốt nhất của văn hóa là nó phải được kết tinh nơi con người, ở tính cách, ở phẩm chất thể hiện trong hoạt động và quan hệ con người.
Cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong hoạt động sản xuất, thể thao, giao tiếp,. Cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong quan hệ cha con, vợ chồng, thầy trò,…là văn hóa. Thứ tư, văn hóa là hệ thống các biểu trưng do một cộng đồng xây dựng nên: ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán, lối sống, tôn giáo, đạo đức, thẩm mỹ, pháp luật ( biểu trưng hóa tình cảm, khát vọng, mục đích, lý tưởng…) Văn hóa là sự phát huy các năng lực bản chất người của con người, được thể hiện ra trong các hoạt động và quan hệ con người. Với góc độ tiếp cận của đề tài, tôi tán thành và sử dụng định nghĩa về văn hóa sau đây: Văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử bằng lao động của mình trên cả hai lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần.
Khái niệm văn hóa tinh thần C.Mác và Ăngghen trong khi nghiên cứu sự vận động và phát triển của xã hội loài người đã khái quát toàn bộ các hình thức hoạt động của xã hội thành hai lĩnh vực hoạt động cơ bản là sản xuất vật chất – sản xuất tinh thần. Theo đó, có thể quan niệm rằng văn hóa vật chất gắn liền với sản xuất vật chất, chủ yếu được hình thành phát triển từ sản xuất vật chất. Còn văn 13 hóa tinh thần gắn với sản xuất tinh thần, chủ yếu được hình thành và phát triển từ sản xuất tinh thần.