phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 3 chơng: Chơng 1. Cơ sở lý luận Chơng 2. Thực trạng của việc phân công lao động trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội. Ứng dụng phơng pháp công tác xã hội nhóm 14 PHẢN NỘI DUNG CHŒ|ƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.
Các khái niệm công cụ 1. Phân công lao động theo giới e Giới Theo Luật Bình đẳng giới của Quốc hội Khóa XI, kì họp thứ 10, ngày 29 tháng 11 năm 2006 thì “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”.[15] Theo tác giả Lê Thị Quy (Giáo trình Xã hội học giới) thì “giới là mối quan hệ giữa nam và nữ đợc xác định theo văn hóa và cách thức mối quan hệ đó đợc xác định trong xã hội”.[ 14] Theo Vũ Mạnh Lợi thì “Khái niệm giới chỉ những hành vi và những kì vọng xã hội khác nhau mà xã hội gán cho nam và nữ mà một ngời học đợc qua quá trình trởng thành và giao tiếp xã hội”[§] Từ các khái niệm nêu trên, ta có thể kết luận rằng giới là một phạm trò khoa học xã hội đợc dùng để chỉ các vai trò, thái độ và giá trị của giới tính trong xã hội. Giới bao gồm các mối quan hệ và tơng quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong môi trờng xã hội cụ thể. Giới đợc xác định trong mối quan hệ nam — nữ về quyền lực, vị trí xã hội và phân công lao động.
e Giới tính: Giới tính chỉ đặc điểm sinh học của nam và nữ.[ 1 5] e Bình đẳng giới: Có nhiều cách hiểu khác nhau về bình đẳng giới. Có quan điểm cho rằng, bình đẳng giới là sự ngang bằng nhau giữa nam giới và nữ giới, nam giới nh thế nào thì nữ giới cũng nh vậy. Đây là cách hiểu cha đầy đủ về bình đẳng giới. Ngân hàng thế giới đa ra định nghĩa về bình đẳng giới nh sau: “ bình đẳng giới theo nghĩa bình đẳng về luật pháp, về cơ hội — bao gồm sự bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn nhân lực, vốn và các nguồn lực sản xuất khác, bình đẳng trong thù lao công việc và trong tiếng nói”.
Cách tiếp cận này không định nghĩa bình đẳng 15 giới theo sự bình đẳng về thành quả. Một cách hiểu khác đầy đủ hơn và tơng đối phổ biến thì bình đẳng giới là “sự thừa nhận và coi trọng nh nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa nữ giới và nam giới. Nam giới và nữ giới đều có vị thế bình đẳng và đợc tôn trọng nh nhau”. Dới góc độ pháp lý, theo quy định tại Điều 5: Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, đợc tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hởng nh nhau về thành quả và sự phát triển đó.[15] Đề tài của tôi dựa theo khái niệm này để thực hiện nghiên cứu.
e Bắt bình đẳng giới: là sự phân biệt déi xử về vị trí, điều kiện và cơ hội bất lợi cho nam, nữ trong việc thực hiện quyền con ngời, đóng góp và hởng lợi từ sự phát triển của gia đình, của đất nớc [10] Hay nói cách khác, bất bình đẳng giới là sự đối xử khác biệt với nam giới và phụ nữ tạo nên các cơ hội khác nhau, sự tiếp cận các nguồn lực khác nhau, sự thụ hởng khác nhau giữa nam và nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. e Định kiến giới: Là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đạo đức, vị tri, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ.[ 1 5] e Lao động: Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con ngời nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con ngời. Thực chất là sự vận động của sức lao động trong qua trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và t liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con ngời. Có thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế.[42] Trong phạm vi đề tài, tôi tìm hiểu về lao động trong gia đình: là những công việc đợc thực hiện trong gia đình nh công việc nội trợ, chăm sóc con cái, công việc trong dòng họ.
16 e Phân công lao động Trong Tác phẩm “Sw phân công lao động trong xã hội” (1893) của E. Durkheim cho rằng “Phân công lao động không chỉ có ý nghĩa thuần thúy kinh tế để làm giàu và nâng cao năng suất hiệu quả lao động mà còn thực hiện chức năng quan trọng về cuộc sống con ngời, đó là tạo ra sự đoàn kết, hội nhập trong xã hội hiện đại. Durkheim thì yếu tố đặc trng trong xã hội của sự đoàn kết có tổ chức là sự phân công lao động. Điều này có thể xảy ra trên cơ sở khác nhau về đặc điểm tự nhiên của chủ thể lao động, cũng nh đặc điểm của sự phát triển kinh tế xã hội”.[29] Dựa trên quan điểm về phân công lao động và sự hiểu biết của mình, tôi có thể đa ra nhận định về phân công lao động theo giới là sự phân chia lao động công bằng và phò hợp về tâm sinh lý giữa nam giới và nữ giới.
e Phan cong lao động theo giới Theo các nhà lý thuyết giới, “Phân công lao động theo giới hay hành động giới là những chức năng xã hội, những khả năng và những cách thức của hành động thích hợp để các thành viên của một xã hội căn cứ vào khi họ là một phụ nữ hoặc là một nam giới”[35] hoặc “Phân công lao động là kết quả của sự phân định chức năng giữa hai giới trên cơ sở của sự thống nhất và sự khác biệt về mặt sinh học và những đặc trng kinh tế - xã hội giữa hai giới. '°[9] Trong đề tài này, tôi sử dụng khái niệm thứ hai vì ngoài việc tìm hiểu thực trạng phân công lao động trong gia đình mà tôi còn tìm hiểu các yếu tố ảnh hởng đến việc phân công lao động trong gia đình nh khái niệm đã nhắc tới là yếu tố sinh học và những đặc trng kinh tế xã hội giữa hai giới. Gắn với phân công lao động theo giới là vai trò giới, hay nói cách khác, vai trò giới là kết quả của sự phân công lao động theo giới. Có thể hiểu “ vai trò giới là vai trò mà con người đợc xã hội mong đợi thực hiện dù họ là đàn ông hay đàn bà trong 1 nền văn hóa riêng”[6] 17 1.
Gia đình viên chức e Gia đình Theo Luật Hôn nhân và Gia đình ban hành năm 2014, “Gia đình là tập hợp những ngời gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dong, lam phat sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật nảy.”[16] Trong giáo trình “Xã hội học” của Phạm Tất Dong và Lê Ngọc Hùng thì “Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thò, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của các thành viên cũng nh để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con ngời”[2] Trong tác phẩm “Gia đình” của hai nhà Xã hội học ngời Mỹ là F. Locke dinh nghia “Gia đình là những ngời đoàn kết với nhau bằng những mối quan hệ hôn nhân huyết thống và việc nhận con nuôi tạo thành một bộ tộc đơn giản, tác động lẫn nhau trong vai trò tơng ứng của họ (vợ, chồng, con.) tạo ra một nền văn hóa chung.”[32] Từ các định nghĩa trên, ta có thể hiểu đơn giản gia đình là một dạng đặc biệt của thiết chế xã hội đợc hình thành bởi các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc nhận nuôi. Các mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau và thê hiện vai trò tơng ứng của họ nh ông, bà, bố mẹ, con cái. Để phù hợp nội dung của đề tài, tôi lựa chọn khái niệm gia đình từ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để tiếp cận.
e Phân loại gia đình: Dựa theo các cách tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học nghiên cứu về gia đình đã đa ra các cách phân loại nh: Gia đình truyền thống và gia đình hiện đại; Gia đình mở rộng và gia đình hạt nhân. Trong đề tài của mình, tôi tiếp cận theo cách phân loại gia đình gồm gia đình mở rộng và gia đình hạt nhân. 18 + Gia đình mở rộng là gia đình có ít nhất ba thế hệ chung sống với nhau đó là ông bà, bố mẹ và con cái. + Gia đình hạt nhân là gia đình chỉ có hai thế hệ chung sống với nhau đó là bố mẹ và con cái.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi tập trung nghiên cứu về phân công lao động theo giới trong gia đình hạt nhân là viên chức. e Viên chức Theo Điều 2 của Luật viên chức năm 2010 thì “Viên chức là công dân Việt Nam đợc tuyên dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp theo chế độ hợp đồng làm việc, hởng lơng từ quỹ lơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.”[17] e Gia đình viên chức Theo tìm hiểu, hiện nay cha có một khái niệm cụ thể nào nói về gia đình viên chức. Nh vậy, từ khái niệm gia đình và khái niệm viên chức, trong đề tài của mình, tôi đa ra nhận định của mình về gia đình viên chức là gia đình có vợ hoặc chồng, hoặc cả hai vợ chồng làm việc tại các đơn vị sự nghiệp theo chế độ hợp đồng làm việc, hởng lơng từ quỹ lơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Hay nói một cách cụ thé, gia đình viên chức theo cách tiếp cận của dé tài có thé la: - Gia đình có vợ là viên chức - Gia đình có chồng là viên chức - Gia đình có cả vợ và chồng là viên chức 1.3 Phân công lao động trong gia đình viên chức Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình viên chức.