Chương 1 Luật Hôn nhân và Gia đình, 2010). Lê Ngọc Hùng và Phạm Tất Dong (1997) trong cuốn “Xã hội học” cho rằng gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của các thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người. Mendo (1949) - nhà xã hội học người Mỹ trong tác phẩm “Cấu trúc xã hội” - cho rằng: “Gia đình là một nhóm xã hội đặc trưng, là cùng cư trú, hợp tác và tái sản xuất kinh tế. Nhóm xã hội này bao gồm: người lớn của cả hai giới và ít nhất trong đó có quan hệ tính dục với nhau được xã hội tán thành, có một con hoặc nhiều con cái, có thể có con nuôi”.
Một định nghĩa khác của gia đình được tác giả tìm hiểu theo Điều 4, phần I bản “Tuyên bố về phát triển và tiến bộ xã hội” của Liên Hợp Quốc (1969) nêu rõ “Gia đình với tư cách là đơn vị cơ bản của xã hội và là môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên đặc biệt là trẻ em”. Từ những định nghĩa trên, nhóm nghiên cứu rút ra khái niệm chung nhất cho gia đình. Gia đình là thể chế xã hội đơn giản nhất và đặc biệt nhất, được hình thành từ các mới quan hệ giữa người với người, chung huyết thống hoặc khác huyết thống, đi kèm với tình cảm và trách nhiệm của mỗi một thành viên trong thể chế ấy, là môi trường tự nhiên thoả mãn nhu cầu riêng tư của mỗi thành viên và nhu cầu của xã hội, đồng thời đáp ứng việc tái sản xuất dân cư theo cả thể xác và tinh thần. Dù vậy, dù theo cách tiếp cận nào, gia đình vẫn là một thuật ngữ đa nghĩa nên khó có thể đưa ra một định nghĩa chung và hoàn hảo.
Cùng với sự phát triển của xã hội, các loại hình gia đình cũng dần biến đổi với nhiều dạng gia đình mới như: gia đình đơn thân (mẹ và con, cha và con); gia đình các cặp đôi nam - nữ không kết hôn vẫn chung sống, vân vân. Giá trị của gia đình Quan niệm giá trị là chủ đề trung tâm trong nghiên cứu xã hội học; do đó, rất nhiều định nghĩa khác nhau được tiếp cận từ nhiều góc nhìn của các lĩnh vực đa dạng như triết học, tâm lý học, đạo đức học, nhân học và kinh tế học, xã hội học, vân vân. 20 Chính vì được tiếp cận từ nhiều hướng mà mỗi khái niệm của giá trị đều mang một mức độ trừu tượng cao. Rokeach (1973) cho rằng giá trị là một niềm tin bền vững về một phương thức hành động hay thực tại được chấp nhận về mặt xã hội và cá nhân có khả năng thống nhất những lợi ích đa dạng khác nhau của các khoa học có liên quan đến hành vi con người.
Khi giá trị được coi là niềm tin, nó đồng thời có kết nối chặt chẽ với mức độ ảnh hưởng. Sự hình thành của giá trị sẽ chuyển hoá thành những cảm nhận và tình cảm. Ví dụ, đối với những người cho rằng độc lập là một giá trị quan trọng, họ sẽ tức giận khi độc lập bị đe dọa khi họ không thể bảo vệ giá trị đó và sẽ hạnh phúc khi có nó. Giá trị được sử dụng như một công cụ đo đạc và miêu tả sự thay đổi của cá nhân và xã hội, của không gian và thời gian và đặc biệt, giải thích cho những động lực của thái độ và hành vi cá nhân.
Từ quan niệm giá trị nói trên, nhóm nghiên cứu rút ra được định nghĩa giá trị của gia đình. Giá trị của gia đình là những nhận thức quan trọng về gia đình; nó cho phép những thành viên trong gia đình cùng nhau xác định những mục đích tốt đẹp chung đáng mong đợi, từ đó loại bỏ những xung đột cá nhân vì tập thể chung. Một khi những giá trị của gia đình được thể hiện trong quá trình giao tiếp giữa người với người không chỉ trong phạm vi gia đình mà trong toàn xã hội, con người sẽ lĩnh hội và thực hiện hành động của mình thông qua chúng theo cách này hay cách khác. Giá trị của gia đình càng lớn đồng nghĩa với hạnh phúc nó mang lại càng nhiều, trở thành niềm tin chung của mọi người và mọi nhà về gia đình - thể chế xã hội đơn giản và đặc biệt nhất, từ đó được phát huy và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Các lý thuyết liên quan về giá trị gia đình - Lý thuyết hiện đại hoá và biến đổi gia đình Sự quan tâm của xã hội hiện đại đang bị thu hút bởi lý thuyết hiện đại hoá được nghiên cứu bởi nhiều học giả. Quan điểm về hiện đại hoá của học giả Inglehart được đánh giá là có sức ảnh hưởng lan rộng nhất. Ông cùng cộng sự Welzel (2009) đã tuyên bố hiện đại hoá là quá trình biến đổi xã hội gắn liền với công nghiệp hoá. Trước đó, Inglehart & Baker (2000) cho rằng quan điểm chính của lý thuyết hiện đại hoá là việc phát triển kinh tế và công nghệ gắn liền với những biến đổi từ các giá trị và phong tục cũ sang một xu hướng hợp lý, khoan dung, tin cậy và có sự tham gia hơn, tạo nên sự thay đổi về chính trị và xã hội.
Có thể liệt kê một số khía cạnh được bao gồm trong quá trình hiện đại hoá, điển hình như chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân đang từng bước thống trị trước chủ nghĩa cộng đồng và tập thể; một minh chứng cụ thể là việc tư nhân hoá cuộc sống gia đình. Cuộc sống gia đình đang dần thoát khỏi những kiểm soát của cộng đồng, dần tách biệt khỏi môi trường làm việc và phụ nữ đang dần cách biệt khỏi chế độ gia trưởng. Hệ quả sinh ra từ việc này là những thay đổi về hôn nhân và gia đình được cho là có quan hệ mật thiết với quá trình hiện đại hoá.
21 Lý thuyết hiện đại hoá vốn có nhiệm vụ xác định sự đổi khác của các đặc điểm cá nhân nói riêng và những thay đổi của gia đình và xã hội nói chung không thể dự đoán các đặc điểm của gia đình đương đại (Barbieri & Belanger, 2009). Chủ nghĩa cá nhân từ quá trình hiện đại hoá, cùng với hôn nhân tự nguyện, quy mô gia đình thu hẹp (từ gia đình có ba thế hệ trở lên thành gia đình hạt nhân), vị thế đang được nâng cao của người phụ nữ, kế hoạch hoá gia đình (sinh từ một đến hai con) và tính độc lập của thế hệ trẻ đã trở thành những nét đặc trưng của gia đình đương đại. Những tiến bộ vượt bậc của xã hội hiện đại về đô thị hóa, trình độ học vấn cao, công nghiệp hoá, công nghệ phát triển không thể được lý giải đơn thuần bởi lý thuyết hiện đại hoá mà còn có sự tác động từ các gia đình đương đại. Sự biến đổi của xã hội và gia đình ngày nay chịu ảnh hưởng qua lại lẫn nhau.
Thay đổi của xã hội tạo nên thay đổi của gia đình; tương tự, thay đổi của gia đình tạo nên thay đổi của xã hội. Quay trở lại với những biến đổi của gia đình đương đại. Ngoài quá trình hiện đại hoá, các phong tục truyền thống cũng góp phần hình thành chuẩn mực mới trong hôn nhân gia đình, đồng thời điều chỉnh những tác động của hiện đại hoá, bảo vệ hệ thống gia đình khỏi những áp lực đương đại (Cho & Yada, 1994). Tuy nhiên, phụ nữ càng ngày càng sở hữu nhiều cơ hội tiếp xúc với nền giáo dục cao hơn (đại học, cao học), cơ hội việc làm nhiều hơn, dẫn tới quan điểm về kết hôn muộn cộng với vai trò giới trong hôn nhân trở nên không còn phù hợp với thời đại mới.
Quan hệ vợ chồng trong hôn nhân gia đình trên các phương diện khác nhau đều ít nhiều bị ảnh hưởng bởi lý tưởng giới. Sự nhận thức về bình đẳng giới lĩnh hội từ giáo dục của phụ nữ khiến họ ngày càng yêu thích khả năng độc lập về kinh tế và xã hội. - Lý thuyết về giá trị gia đình Giá trị gia đình chiếm một vị trí tối quan trọng trong đời sống ở mọi lĩnh vực có thể kể đến như các quyết định kinh tế, tham gia thị trường lao động, thị trường tín dụng, cơ hội nghề nghiệp, sở hữu tài sản, vân vân đều diễn ra trong gia đình và phụ thuộc vô cùng lớn vào giá trị gia đình. Lịch sử chứng kiến sự chuyển mình của thể chế gia đình trong nhiều thập kỷ qua về quy mô, chức năng, các mối quan hệ và giá trị; tuy vậy, gia đình vẫn bảo toàn được vị trí của mình trong hầu hết các hoạt động kinh tế và xã hội.
Điểm đặc trưng trong sự biến đổi về giá trị gia đình là vai trò giới trong phân công lao động gia đình. Xu hướng thời đại ngày nay là nữ giới tham gia vào lực lượng lao động sản xuất càng nhiều và nam giới chia sẻ công việc nhà càng tăng. Những đổi khác về cách giao tiếp ứng xử giữa hai giới khi ở nhà và ở môi trường làm việc có tác động nhất định đến đời sống gia đình và hệ giá trị quan hệ vợ chồng. Mối quan hệ vợ chồng cũng thay đổi khi người phụ nữ cũng như người chồng cùng nhau cố gắng cân bằng giữa công việc và gia đình.
Điều này đồng nghĩa với việc những vai trò mới trong hôn nhân được sinh ra, khác biệt hoàn toàn với tư tưởng hôn nhân truyền thống. 22 Các lý thuyết về giới đề cập đến quan hệ xã hội của người phụ nữ và người đàn ông trong mọi lĩnh vực cuộc sống, đặc biệt là giá trị gia đình, nơi những vai trò và nhiệm vụ nhất định của cả hai giới được thể hiện rõ nhất. Sự phân công công việc gia đình xuất phát từ sự thuận lợi về mặt sinh học và sự phân công của xã hội. Hơn nữa, phân công lao động theo giới liên kết chặt chẽ với các giá trị và khuôn mẫu chuẩn mực xã hội, thích nghi với những thay đổi của điều kiện gia đình.
Để đảm bảo cho sự công bằng và hiệu quả xã hội, nam giới và nữ giới cần được đảm bảo cơ hội và điều kiện thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình. Phân công lao động 2.