Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH 1. Hộ gia đình và kinh tế hộ gia đình 1. Phát triển và phát triển kinh tế Phát triển: là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự tăng thêm về quy mô sản lượng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống [Giáo trình kinh tế chính trị Mac - Lênin dùng cho khối ngành kinh tế - quản trị kinh doanh trong các trường cao đẳng, đại học (2006)]. Phát triển kinh tế: có thể hiểu là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định.
Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội [Ngô Thắng Lợi (2013)]. Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, hộ nông dân và kinh tế hộ gia đình, hộ nông dân * Hộ gia đình: hay còn gọi đơn giản hộ là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung (cùng chung hộ khẩu) và ăn chung (nhân khẩu). Đối với những hộ có từ hai người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung. Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai [Đỗ Văn Viện - Đỗ Văn Tiến (2005)].
Hộ gia đình: có ba tiêu thức chính thường được nói đến khi định nghĩa khái niệm hộ gia đình: - Có quan hệ huyết thống và hôn nhân - Cùng cư trú - Có cơ sở kinh tế chung [Đỗ Văn Viện - Đỗ Văn Tiến (2005)]. Theo một số từ điển chuyên ngành kinh tế, từ điển ngôn ngữ thì hộ được hiểu là: tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, bao gồm những người có cùng huyết tộc và những người làm công [Đỗ Văn Viện - Đỗ Văn Tiến (2005)]. 6 Về phương diện thống kê, các nhà nghiên cứu Liên hợp quốc cho rằng hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ [Đỗ Văn Viện - Đỗ Văn Tiến (2005)]. Đại đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống.
Vì vậy khái niệm hộ thường được hiểu đồng nghĩa với gia đình, nhiều khi được gộp thành khái niệm chung là hộ gia đình. * Hộ nông dân Theo Frank Ellis cho rằng: “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”. Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993): “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”. Nhà khoa học Traianốp đưa ra định nghĩa: “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định” và ông coi “hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp”.
Tác giả Mats Lundahl và Tommy Bengtsson bổ sung thêm vào quan điểm của Traianốp: “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản”. Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993): “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”. Đào Thế Tuấn (1997) chỉ ra: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”. Đối với nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc (năm 2001) thì: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia 7 trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,.) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”.
Xuất phát từ những khái niệm trên, có thể chỉ ra một số đặc điểm chung như sau: - Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, miền núi, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp. Hộ có nguồn thu nhập chủ yếu bằng nghề nông. Ngoài ra, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp, chẳng hạn tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ. ở các mức độ khác nhau.
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng. Hộ nông dân phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân. Các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thị trường, xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu. * Kinh tế hộ nông dân Khái niệm: Theo Frank Ellis (1988) thì kinh tế hộ nông dân là: “Các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường, hoạt động với một trình độ không hoàn chỉnh cao”.
* Đặc điểm: Kinh tế hộ nông dân được phân biệt với các hình thức kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường bởi các đặc điểm sau: - Đất đai: Đây là đặc điểm phân biệt giữa hộ nông dân với những người lao động khác. Như vậy, nghiên cứu hộ nông dân là nghiên cứu những người sản xuất có tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai. - Tiền vốn: Do họ tự tạo ra chủ yếu là từ sức lao động của họ. Mục đích sản xuất chủ yếu là phục vụ yêu cầu cần tiêu dùng trực tiếp của hộ, không phải là lợi nhuận, hộ không quan tâm đến giá trị thặng dư.
Có lúc hộ nông dân phải duy trì mức tiêu dùng tối thiểu, để đầu tư sản xuất với chi phí rất cao để đảm bảo cuộc sống của gia đình. 8 - Lao động: Lao động sản xuất chủ yếu là do các thành viên trong hộ tự đảm nhiệm. Sức lao động của các thành viên trong hộ không được xem là lao động dưới hình thức hàng hoá, hộ không có khái niệm tiền công, tiền lương. Sự hiểu biết về kinh tế hộ nông dân được thông qua các đặc trưng của hộ nông dân nói chung.
Tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, mỗi vùng mà nông hộ có những đặc trưng cụ thể. Tóm lại, kinh tế hộ nông dân luôn gắn liền với đất đai và sử dụng lao động gia đình là chủ yếu. Mục đích chủ yếu nhất của sản xuất trong nông hộ là đáp ứng cho tiêu dùng trực tiếp của hộ, sau đó mới là sản xuất hàng hoá. Giới tính và giới 1.
Khái niệm giới tính và giới Giới tính: Là khái niệm dùng để sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trên cả khía cạnh sinh học và xã hội [Đỗ Văn Viện - Đỗ Văn Tiến (2005)]. Các đặc trưng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự nhiên, di truyền. Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học như tạo ra trứng, mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa mẹ. Nam giới có chức năng tạo ra tinh trùng.
Về mặt sinh lý học, nữ giới khác với nam giới [Tổ chức Lao động quốc tế (2002)]. Giới: Là khái niệm dùng để chỉ các đặc trưng sinh học của nữ giới và nam giới trong tự nhiên [Đỗ Văn Viện - Đỗ Văn Tiến (2005)], chỉ sự khác biệt về xã hội và quan hệ (về quyền lực) giữa trẻ em trai và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới, được hình thành và khác nhau ngay trong một nền văn hoá, giữa các nền văn hoá và thay đổi theo thời gian. Sự khác biệt này được nhận thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm, nhu cầu, khó khăn, thuận lợi của các giới tính [Tổ chức Lao động quốc tế (2002)]. Khái niệm về “Giới” được xuất hiện ban đầu là các nước nói tiếng Anh, vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX.
Ở Việt Nam, khái niệm này mới xuất hiện vào khoảng thập kỷ 80. “Giới” là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. “Giới” đề cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia: nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể. 9 “Giới” là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi.
Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể. “Giới” là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan hệ nam và nữ. Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo công bằng trong xã hội. Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới và giới tính 1.
Những đặc điểm cơ bản về giới tính - Bẩm sinh: Về phương diện sinh lý thì nam giới và nữ giới khác nhau ngay từ trong bào thai. Đó là những đặc điểm xác định bởi tự nhiên, không theo và không phụ thuộc vào mong muốn của con người. Nó ổn định về tương quan giữa hai giới trong quá trình sinh sản. Chức năng sinh sản của nữ giới hay nam giới là không thể thay thế, thay đổi hay chuyển dịch cho nhau.
- Tính đồng nhất: Nam giới hay nữ giới đều có cấu tạo về mặt sinh lý giống nhau, tham gia và mang các yếu tố đóng góp vào quá trình thụ thai như nhau. - Tính không đổi: Về phương diện sinh lý chức năng sinh sản của nữ giới hay nam giới là không thể thay đổi hay chuyển dịch cho nhau được. Sự khác biệt về giới tính là bất biến cả về thời gian cũng như không gian. - Tính do dạy và học mà có: Đứa trẻ phải học để làm con trai hoặc con gái.
Bắt đầu từ khi sinh ra đứa trẻ được dạy dỗ tuỳ theo là con trai hay con gái.