Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NGHÈO ĐÓI 1. Khái niệm nghèo đói: Hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ASCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan 9/1993, trích trong Nguyễn Trọng Hoài, 2005, đưa ra khái niệm nghèo, đó là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu của con người được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế, xã hội và phong tục tập quán của địa phương. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 1990, trích trong Nguyễn Trọng Hoài, 2005, cho rằng nghèo đói là tình trạng không có khả năng có mức sống tối thiểu, bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng. “Xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa là khốn cùng.
Nghèo có nghĩa là đói, không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường. Người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Họ thường bị các thể chế của Nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra bên lề xã hội nên không có tiếng nói và quyền lực trong các thể chế đó”. Theo Đinh Phi Hổ (2006), bản thân khái niệm nghèo đói nó cũng bao hàm mức độ nghèo khác nhau, vì trong các nhóm dân cư có người thuộc nhóm nghèo nhưng chưa phải là nghèo nhất trong xã hội mà bị rơi vào tình trạng đói kém.
Do đó, cách tiếp cận khác nhau về tình trạng thiếu thốn sẽ phân biệt ngưỡng nghèo khác nhau. Qua đó ta thấy rằng, có nhiều khái niệm khác nhau về nghèo đói, nhưng tổng quát có điểm chung là: người nghèo đói có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư, họ thiếu hụt các điều kiện vật chất, tinh thần, không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người và không đủ khả năng tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Nghèo được nhận diện trên hai khía cạnh: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. 5 Theo Ngân hàng Thế giới, nghèo tuyệt đối là tình trạng một người hoặc một gia đình không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống (ăn, mặc, ở, được chăm sóc sức khỏe, giáo dục cơ bản và hưởng các dịch vụ cần thiết khác) mà được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi nước.
Do vậy, một người hoặc hộ gia đình có thu nhập hoặc chi tiêu thấp hơn chuẩn tối thiểu do một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế quy định trong khoảng thời gian nhất định thì được gọi là nghèo tuyệt đối. Ở Việt Nam xác định chuẩn nghèo cũng dựa theo khái niệm này. Nghèo tương đối là tình trạng một người hoặc một hộ gia đình thuộc nhóm có thu nhập thấp nhất trong xã hội được xác định trong những địa điểm cụ thể và thời gian nhất định. Do vậy, bất kể trình độ phát triển kinh tế của quốc gia luôn xuất hiện nghèo tương đối.
Các phương pháp xác định đối tượng nghèo đói: 1. Phương pháp dựa vào tiêu chí thu nhập hộ gia đình: Thu nhập bình quân đầu người trong hộ gia đình là tiêu chí khá quan trọng để đánh giá mức nghèo đói của hộ gia đình. Thu nhập càng thấp thì mức độ nghèo đói càng cao. Theo chuẩn quốc tế, thu nhập đầu người dưới mức 1 USD/ngày là nghèo.
Tuỳ theo trình độ phát triển của mỗi quốc gia mà đưa ra một chuẩn hay ngưỡng nghèo thay đổi theo từng giai đoạn. Ở Việt Nam, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đưa ra ngưỡng nghèo trong giai đoạn 2001-2005 là dưới 150.000 đồng/người ở khu vực thành thị, 100.000 đồng/người ở khu vực nông thôn; giai đoạn 2006- 2010 là 260.000 đồng/người ở khu vực thành thị, 200.000 đồng/người ở khu vực nông thôn. Tuy nhiên, việc sử dụng tiêu chí thu nhập hộ gia đình để đánh giá nghèo đói cũng chưa chính xác, đặc biệt là trong việc thu thập số liệu qua phỏng vấn hộ gia đình, do người dân thường không nhớ rõ (như một số hộ có nhiều khoản thu nhập không thường xuyên trong năm) hoặc có tâm lý không muốn khai báo đủ mức thu nhập. Phương pháp dựa vào tiêu chí chi tiêu hộ gia đình: 6 Theo phương pháp này, những hộ gia đình có mức chi tiêu đầu người không đảm bảo đủ 2.100 kcal/ngày theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới thì thuộc diện nghèo đói (chi tiêu đầu người dưới chuẩn nghèo).
Phương pháp này được áp dụng tại các cuộc tổng điều tra mức sống dân cư hoặc điều tra mức sống hộ gia đình do Tổng cục Thống kê tiến hành. Việc thu thập số liệu điều tra về chi tiêu sẽ tương đối chính xác hơn tiêu chuẩn thu nhập, vì người dân thường nhớ các khoản chi tiêu hơn là các khoản thu nhập. Tuy nhiên, phương pháp này có hạn chế là mức chi tiêu đôi khi không phản ánh được tình trạng nghèo hay sung túc, đó là trường hợp hộ gia đình có mức thu nhập thấp nhưng quen chi tiêu lớn hơn thu nhập (mức chi tiêu cao hơn ngưỡng nghèo) nên phải vay tiền để chi tiêu, dẫn đến nợ chồng chất, lâm vào cảnh nghèo, túng quẩn. Phương pháp vẽ bản đồ nghèo: Phương pháp này được nhóm tác chiến bản đồ nghèo đói liên Bộ sử dụng để ước lượng các chỉ số đói nghèo cấp xã, huyện và tỉnh ở Việt Nam; phương pháp này kết hợp giữa phỏng vấn sâu của điều tra hộ với phạm vi rộng của tổng điều tra dân số.
Theo đó, các cuộc điều tra mức sống hộ gia đình sẽ thu thập thông tin không chỉ về chi tiêu hộ mà còn cả một loạt các biến khác như: quy mô, trình độ học vấn của các thành viên trong hộ, nghề nghiệp và tài sản hộ gia đình. Còn tổng điều tra dân số không hỏi về chi tiêu nhưng lại bao gồm những thông tin về nhiều biến số kể trên. Phương pháp vẽ bản đồ gắn hai cuộc điều tra trên thông qua 3 giai đoạn như sau: giai đoạn đầu liên quan đến việc xác định các biến số mô tả các đặc điểm của hộ có thể liên quan đến chi tiêu và nghèo đói trong cả điều tra hộ gia đình và tổng điều tra dân số cùng thời kỳ; giai đoạn hai, đo lường phúc lợi, chi tiêu bình quân đầu người được ước lượng bằng hàm số hồi quy của các đặc điểm hộ theo số liệu điều tra hộ gia đình; giai đoạn cuối, dùng kết quả hồi quy để ước tính chi tiêu của hộ gia đình trong tổng điều tra dân số và dùng để đánh giá xem một hộ có nghèo không. Phương pháp vẽ bản đồ dựa vào chi tiêu, nhưng là chi tiêu dự báo chứ không phải chi tiêu thực tế, phương pháp này cho phép tính tỷ lệ nghèo ở cấp thấp như 7 tỉnh, huyện, xã.
Tuy nhiên, phương pháp này cho kết quả không hoàn toàn chính xác. Mặt khác, trong giai đoạn thứ hai, những đặc điểm của hộ không thể ước tính giá trị chi tiêu một cách hoàn hảo được, đồng thời có sự khác nhau giữa các hộ trong điều tra mức sống và các hộ trong điều tra dân số. Do đó, chi tiêu dự báo chỉ có thể ước tính với sai số. Phương pháp xếp hạng giàu nghèo: Việc phân loại theo phương pháp này được thực hiện thông qua việc bình nghị, thảo luận nhóm nhằm bình chọn những hộ nghèo.
Những người tham gia xét chọn bao gồm đại diện chính quyền địa phương (thường là cấp ấp), đại diện các tổ chức đoàn thể địa phương, đại diện cộng đồng với đầy đủ các thành phần như: già, trẻ, nam, nữ, người nghèo, không nghèo. Nhóm này sẽ thảo luận, đưa ra những đặc tính của người nghèo; sau đó, đại diện chính quyền phát phiếu (ghi tên tất cả những hộ trong ấp) cho đại biểu tham dự để phân loại hộ vào các nhóm nghèo, trung bình, khá, giàu. Nếu hộ được phân loại khác nhau từ hai phiếu, sẽ được đưa ra thảo luận tập thể để tìm hiểu nguyên nhân của việc phân loại khác nhau này và tìm sự nhất trí trong phân loại đối với từng trường hợp. Phương pháp này có tính khách quan và toàn diện hơn phương pháp dựa vào điều tra chi tiêu hay thu nhập.
Tuy nhiên, phương pháp này tốn kém chi phí. Mô hình nghèo đói của Gillis – Perkins – Roemer – Snodgrass M. Snodgrass (1983) đã đúc kết mối quan hệ giữa giảm nghèo đói và tăng trưởng kinh tế theo hướng khi GNP/người tăng, thu nhập trung bình của người nghèo sẽ tăng. Y = f(YP) Trong đó: Y: Thu nhập trung bình trong năm của 40% hộ nghèo nhất của xã hội.
YP: GNP/người/năm. Dựa vào phương trình trên, các nhà kinh tế học đã tính toán với số liệu thu thập của 63 quốc gia trên thế giới trong giai đoạn 1965 - 1988 cho kết quả: 97% sự 8 thay đổi thu nhập trung bình trong năm của 40% hộ nghèo nhất của xã hội được giải thích bởi sự thay đổi GNP/người/năm (Đinh Phi Hổ, 2008). Ngoài ra, các nhà kinh tế học còn tìm thấy mối tương quan dương giữa tình trạng nghèo đói và vùng địa lý có GNP/người thấp. Có nghĩa là, số người nghèo đói tập trung phần lớn trong các vùng địa lý có GNP/người thấp.1: Số người nghèo đói phân theo vùng địa lý Vùng Số người nghèo % của tổng số người (triệu người) nghèo trên thế giới Nam Á 520 47 Đông Á 280 25 Sa mạc Sahara 70 6 Châu Mỹ La tinh và vùng Caribe 180 16 Trung Đông và Bắc Phi 60 5 Đông Âu 6 1 Tổng số 1.
Ở Việt Nam, số người nghèo tập trung tại vùng núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và Đồng bằng sông Cửu Long (NGO Working Group, 1999, trích trong Đinh Phi Hổ, 2006).2: Số người nghèo đói phân theo vùng địa lý ở Việt Nam (theo tiêu chuẩn của World Bank) Tỷ phần trong tổng số Tỷ lệ người Dân số Vùng nghèo đói quốc gia (%) nghèo đói (%) (triệu người) 1992 1998 1998 1998 Núi phía Bắc 21 28 18 13,5 Đồng bằng sông Hồng 23 15 20 14,9 Bắc Trung bộ 16 18 14 10,5 Duyên hải miền Trung 10 10 11 8,1 Tây nguyên 4 5 4 2,8 Đông Nam bộ 7 3 13 9,7 Đồng bằng sông Cửu Long 18 21 21 16,3 Cả nước 100 100 100 75,8 Nguồn: NGO Working Group, 1999. Mô hình trên cho thấy rằng tăng trưởng và phát triển kinh tế sẽ ảnh hưởng đến nâng cao thu thập cho người nghèo, góp phần giảm số người nghèo. Do đó, sẽ 9 ngộ nhận khi quá nhấn mạnh đến xóa đói giảm nghèo mà không dựa trên cơ sở tăng trưởng kinh tế.