CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Những vấn đề chung về nghèo 1. Quan niệm về nghèo Một trong những vấn đề nổi lên hàng đầu hiện nay và được cả thế giới quan tâm đó là nghèo. Nghèo đã và đang diễn ra trên khắp thế giới và gây nên nhiều hậu quả lớn.
Nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến những người rơi vào cảnh khốn khó mà còn ảnh hưởng đến mọi mặt trong đời sống kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái và sự phồn vinh của quốc gia. Chính vì thế mà giảm nghèo đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của cả cộng đồng quốc tế, là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, muốn giảm nghèo thì phải hiểu rõ về bản chất của nghèo và những vấn đề liên quan đến nghèo đã được cả thế giới mổ xẻ trong nhiều thập niên qua. Có khá nhiều khái niệm khác nhau về nghèo, tùy thuộc vào cách tiếp cận, thời gian nghiên cứu và sự phát triển kinh tế của một quốc gia mà có những quan niệm khác nhau về nghèo.
Trước đây người ta thường lấy thu nhập để làm tiêu chí đánh giá tình trạng nghèo của con người. Người nghèo được xem là người có mức thu nhập thấp. Quan niệm này tuy có ưu điểm là dễ dàng xác định được số người nghèo, nhưng nó chưa thể phản ánh hết được các khía cạnh của nghèo. Uỷ ban Kinh tế và Xã hội của Liên hợp quốc tại Châu Á-Thái Bình Dương (UNESCAP, 1993) định nghĩa “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển KT-XH và phong tục tập quán của từng địa phương” [13,tr.
Đây là khái niệm khá đầy đủ về đói nghèo và được nhiều nước trên thế giới sử dụng, trong đó có Việt Nam. Để đánh giá đúng mức độ của nghèo, người ta chia thành hai loại là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư 9 không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương. Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét.
Nghèo tương đối biểu hiện khoảng cách giàu, nghèo càng ngày càng xa [13,tr. Để đánh giá mức nghèo của một nước hay một địa phương, có nhiều chỉ tiêu được áp dụng, trong đó có chỉ số nghèo của con người (Human Poverty Index – HPI) và hệ số GINI. Chỉ số HPI bao gồm: tỉ lệ người sống thọ dưới 40 tuổi; tỉ lệ người lớn mù chữ; tỉ lệ người không được tiếp cận nước sạch, dịch vụ y tế và tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng; mức chênh lệch về thu nhập hoặc về chi tiêu giữa 20% dân cư giàu nhất với 20% dân cư nghèo nhất. Hệ số GINI là hệ số đo lường mức bất bình đẳng về thu nhập và mức sống giữa các tầng lớp dân cư [13,tr.
Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP, 1997) đã đưa ra những định nghĩa về nghèo với ba yếu tố, gồm có: sự nghèo khổ của con người (đó là thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết và được nuôi dưỡng tạm đủ); sự nghèo khổ về tiền (tức là thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu); và sự nghèo khổ chung (tức là mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định như không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lương thực và phi lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hay nước khác). Ngoài ra, nghèo còn được xác định theo tình trạng đời sống, tức là ngoài khía cạnh thu nhập thì nghèo còn được chú ý đến các khía cạnh khác như mức sống, cơ hội được học tập, quyền tự quyết định, khả năng ảnh hưởng đến những quyết định chính trị và nhiều khía cạnh khác. Trong “Báo cáo Phát triển Thế giới năm 2000”, Ngân hàng Thế giới (1999) đã đưa ra bên cạnh các yếu tố quyết định khách quan cho sự nghèo là những yếu tố chủ quan như phẩm chất và tự trọng. Hiện nay, quan điểm về nghèo đã được hiểu rộng hơn, sâu hơn và có thể có 10 nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Ngân hàng Thế giới (2013) quan niệm nghèo là một khái niệm đa chiều chứ không chỉ là túng thiếu về vật chất nên nghèo không chỉ bao gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực. Như vậy, nghèo đói là khái niệm mang tính chất tương đối cả về không gian và thời gian. Nghèo tuyệt đối chủ yếu phản ảnh tình trạng một bộ phận dân cư không được thoả mãn những nhu cầu tối thiểu của con người như ăn, mặc, ở, đi lại… Nhu cầu này cũng có sự thay đổi và khác biệt đối với từng quốc gia khác nhau. Còn nghèo tương đối phản ánh sự chênh lệch mức sống của một bộ phận dân cư so với mức trung bình chung của cộng đồng ở một thời kỳ nhất định.
Vì thế, người ta cho rằng nghèo tuyệt đối thì có thể xoá được, còn nghèo tương đối là hiện tượng thường có trong xã hội. Vấn đề là phải làm thế nào để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong một quốc gia và giảm tỉ lệ nghèo tương đối đến mức thấp nhất có thể. Tại Việt Nam, dựa trên các khái niệm nghèo đói của các tổ chức trên thế giới, chính phủ và giới học thuật Việt Nam đã đưa ra các khái niệm cụ thể hơn ở các cấp độ cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Về khái niệm nghèo, Việt Nam thừa nhận khái niệm nghèo đói theo UNESCAP (1993) đã trình bày ở trên, nhưng bên cạnh đó thì Việt Nam còn có một số khái niệm liên quan như sau: - Hộ nghèo: Theo Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH), hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người/tháng bằng hoặc thấp hơn chuẩn nghèo.
- Xã nghèo: Là xã có tỉ lệ nghèo cao (chiếm hơn 40% số hộ của xã), không có hoặc rất thiếu những cơ sở hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm, nước sạch. và trình độ dân trí thấp, tỉ lệ mù chữ cao. - Vùng nghèo: Là địa bàn tương đối rộng, nằm ở những khu vực khó khăn hiểm trở, giao thông không thuận tiện, có tỉ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao. 11 Tóm lại, nghèo đói là một khái niệm mang tính tương đối.
Tính chất và đặc trưng của nghèo đói tuỳ thuộc vào đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, phong tục, tập quán của từng vùng, quốc gia, khu vực khác nhau. Đây là vấn đề cần được chú trọng trong công tác giảm nghèo hiện nay. Chuẩn nghèo Nhằm phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo, người ta đưa ra tiêu chí là chuẩn nghèo. Các tổ chức khác nhau thì sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá giàu nghèo.
Ngân hàng Thế giới (2012) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu, nghèo của các quốc gia dựa vào mức thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người trong một năm với hai cách tính, gồm có (i) Phương pháp Atlas tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo đô-la Mỹ và (ii) Phương pháp ngang bằng sức mua (PPP – Purchasing Power Parity) là phương pháp tính theo sức mua tương đương và cũng tính bằng đô-la Mỹ. Theo cách tính PPP, Ngân hàng Thế giới (2012) muốn tìm ra mức chuẩn nghèo đói chung cho toàn thế giới. Trên cơ sở điều tra thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình và giá cả hàng hóa, thực hiện phương pháp tính “rổ hàng hóa” sức mua tương đương để tính được mức thu nhập dân cư giữa các quốc gia có thể so sánh. Ngân hàng Thế giới (2012) đã tính mức năng lượng tối thiểu cần thiết cho một người để sống là 2.
Với mức giá chung của thế giới để đảm bảo mức năng lượng đó cần khoảng 01 đô la Mỹ/người/ngày. Với chuẩn nghèo này thì ước tính có khoảng 1,2 tỷ người nghèo trên toàn thế giới vào thời điểm đó. Tuy nhiên, do đặc điểm kinh tế và xã hội khác nhau cũng như sức mua của mỗi đồng tiền ở các quốc gia khác nhau nên chuẩn nghèo theo thu nhập (tính theo đô-la Mỹ) cũng khác nhau ở mỗi quốc gia. Chẳng hạn, theo tiêu chuẩn của Mỹ, một người trưởng thành độc thân được coi là nghèo nếu thu nhập trước thuế hàng năm dưới 10.991 đô-la Mỹ, trong khi đó thu nhập năm của gia đình có hai người là dưới 14.051 đô-la Mỹ và của gia đình có ba người là dưới 17.
Còn đối với một gia đình có bốn thành viên thì ngưỡng nghèo là 24. Trong năm những năm gần đây, số người nghèo ở Mỹ đã tăng nhanh. Theo báo cáo thường niên công bố ngày 16/9/2015 của Cơ quan Thống kê Liên bang Mỹ cho biết, năm 2014 có tới 46,7 triệu người Mỹ thuộc diện nghèo và mức này tăng cao so với những năm trước. Tỉ lệ người nghèo tại nền kinh tế số một thế giới này là 14,8% và đây là mức cao nhất kể từ năm 1994.
Tương tự, chuẩn nghèo ở Nhật là 22.000 đô la Mỹ một năm/hộ gia đình có 4 người và có gần 1/6 dân số Nhật (tức khoảng 20 triệu người, chiếm 15,7% tổng dân số) đang sống dưới ngưỡng nghèo này. Chỉ tiêu thu nhập quốc dân tính theo đầu người là chỉ tiêu chính mà hiện nay nhiều nước và nhiều tổ chức quốc tế đang dùng để xác định mức độ giàu, nghèo. Tuy vậy, nghèo không chỉ chịu tác động của thu nhập mà còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác như văn hóa, chính trị, xã hội… Trong thực tế, nhiều nước phát triển có thu nhập bình quân theo đầu người cao nhưng vẫn chưa đạt được sự phát triển toàn diện, trong đó thất nghiệp, nghèo đói, thiếu việc làm, ô nhiễm môi trường và những bất công khác vẫn còn phổ biến, khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng lên. Qua đó, có thể thấy rằng nghèo không chỉ là hậu quả của mức thu nhập thấp mà cũng là kết quả của phân phối thu nhập và thực hiện công bằng xã hội.