phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Mục lục; bảng biểu thì có kết cấu 03 chƣơng, cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đối với ngƣời có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Chƣơng 2: Thực trạng về thực hiện chính sách đối với Ngƣời có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắk Lắk. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách đối với ngƣời có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắk Lắk. 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƢỜI CÓ UY TÍN TRONG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.
Một số khái niệm cơ bản có liên quan 1. Dân tộc Dân tộc hay còn gọi là Quốc gia- dân tộc và dân tộc – quốc gia là một cộng đồng chính trị - xã hội đƣợc chỉ đạo bởi một nhà nƣớc, đƣợc thiết lập tren một lãnh thổ nhất điịnh, có tên gọi, ngôn ngữ hành chính, sinh hoạt kinh tế chung với những biểu tƣợng văn hóa chung tạo nên một tính cách dân tộc, ở đay xét về một khía cạnh nhỏ và là một khái niệm đa dạng, đa nghĩa đƣợc sử dụng trong các ngành khoa học vì không chỉ là đối tƣợng nghiên cứu của ngành dân tộc mà còn là đối tƣợng nghiên cứu của các ngành có liên quan, tại các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội thì các nhà nghiên cứu có những khái niệm khác nhau. Trong Luận văn này, học viên chỉ nghiên cứu theo góc độ nhỏ, theo nghĩa hẹp hơn đó là: Tộc ngƣời hay dân tộc là một cộng đồng mang tính tộc ngƣời, có chung một tên gọi, một ngôn ngữ (trừ trƣờng hợp cá biệt), đƣợc liên kết với nhau bằng những giá trị sinh hoạt văn hoá tạo thành tính cách tộc ngƣời, có chung một ý thức tự giác tộc ngƣời, tức là có chung một khát vọng cùng chung sống, có chung một số phận lịch sử thể hiện ở những ký ức lịch sử (truyền thống, lịch sử, huyền thoại, tục kiêng cữ…)[11]. Công tác dân tộc Công tác dân tộc là hệ thống các nguyên tắc, chủ trƣơng, gải pháp để phát triển toàn diện, ọi mặt của các dân tộc nhằm đảm bảo sự thống nhất của cộng đồng quốc gia và đƣợc quy định cụ thể Theo Khoản 1 Điều 4 trong Nghị định 05/2011/NĐ – CP là những hoạt động quản lý nhà nƣớc về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng 12 phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân [11].
Quản lý nhà nước về công tác dân tộc Là một quản lý đặc thù, là quá trình tác động, điều chỉnh các hoạt động KT-XH đối với vùng đồng bào các dân tộc, để những tác động đó đƣợc diễn ra theo đúng quan điểm, đƣờng lối của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc. Quản lý nhà nƣớc về công tác dân tộc là một bộ phận cấu thành hệ thống quản lý nhà nƣớc. Quản lý nhà nƣớc về công tác dân tộc là một quản lý đặc thù. Theo quy định hiện hành, Chính phủ thống nhất QLNN về công tác dân tộc; các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện trách nhiệm QLNN về công tác dân tộc theo quy định của pháp luật.
Còn Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện QLNN về công tác dân tộc ở địa phƣơng theo quy định của pháp luật [11]. Tại Điều 21 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc về công tác dân tộc gồm 11 nhóm nhiệm vụ cụ thể. Chính sách dân tộc Là một hệ thống các nguyên tắc, chủ trƣơng, giải pháp để phát triển toàn diện, mọi mặt của các dân tộc nhằm đảm bảo sự thống nhất của cộng đồng quốc gia dân tộc và mở rộng quan hệ với cộng đồng quốc tế; là bộ phận chủ yếu trong chiến lƣợc phát triển đất nƣớc của Đảng và Nhà nƣớc nhằm đƣa các dân tộc, vùng dân tộc phát triển toàn diện về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…. Chủ thể ban hành chính sách dân tộc: Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam Đối tƣợng thụ hƣởng: Là cộng đồng n các dân tộc Việt Nam - trong đó tập trung sự quan tâm và ƣu tiên đối với các đối tƣợng là ngƣời dân tộc thiểu số đặc biệt là NCUT là đối tƣợng thụ hƣởng.
13 Với mục tiêu là: Bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa các dân tộc và giúp nhau cùng phát triển[11]. Người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số Thực tiễn hiện nay cho thấy, thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam. Vì vậy, cần phát huy vai trò của già làng, trƣởng bản, chức sắc, chức việc các tôn giáo – mà gọi chung là ngƣời có uy tín trong việc tuyên truyền vận động để chống các thế lực thù địch là rất quan trọng. Trong đó, các cụm từ “già làng, trƣởng bản, chức sắc, chức việc các tôn giáo” đƣợc hiểu: “Già làng”: là ngƣời già trong thôn (bản) đƣợc dân làng bầu vào chức vụ này do có uy tín với cộng đồng của ngƣời DTTS ở Việ Nam – họ còn là thủ lĩnh của một tộc ngƣời hoặc đại diện cho một dòng họ của một tộc ngƣời đƣợc mọi ngƣời trong dòng tộc hay ngƣời dân thuộc dòng tộc khác tại nơi cƣ trú nguyện tin, theo.
“Trƣởng thôn (bản)”: là do ngƣời dân trong thôn, bản trực tiếp bầu ra có nhiệm vụ quản lý về mặt chính quyền trong thôn (bản) dƣới sự lãnh đạo của Chi bộ thôn bên cạnh đó còn phải chấp hành mọi sự chỉ đạo của UBND cấp xã; tổ chức, vận động nhân hân dân thực hiện đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nƣớc; không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phƣơng. “Chức sắc, chức việc”: chức sắc tôn giáo là tín đồ đƣợc tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong các tổ chức tôn giáo; chức việc những tín đồ giúp việc cho chức sắc, chủ yếu ở cơ sở nhƣ các chùa, giáo xứ, giáo họ, chi hội, hội thánh, điểm nhóm của đạo Tin lành, các đền tháp, thánh đƣờng… 14 Nhƣ vậy, già làng và trƣởng bản, chức sắc và chức việc tôn giáo đƣợc gọi chung là ngƣời có uy tín – có vai trò, vị thế rất lớn đối với các DTTS trên địa bàn dân cƣ; tiếng nói hành động của già làng và trƣởng bản, chức sắc và chức việc tôn giáo có tác dụng dẫn dắt, định hƣớng cho cả cộng đồng nơi họ sinh sống. Đặc biệt, họ có vai trò rất quan trọng trong công tác tuyên truyền, vận động cũng nhƣ đấu tranh chống các hoạt động lợi dung vấn đề dân tộc, vấn đề tôn giáo của các thế lực thù địch. Trong những năm qua, Chính phủ, Thủ tƣớng chính phủ đã có nhiều văn bản hƣớng dẫn và các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nƣớc, của bộ, ngành, có nhiều khái niệm, qui định khác nhau về ngƣời có uy tín trong DTTS, liên tục sửa đổi bổ sung các nội dung của chính sách để phù hợp với tình hình thực tiễn tại các địa phƣơng cụ thể nhƣ: thông các Chỉ thị, Kết luận các kỳ Đại hội Đảng.
Cụm từ: “người tiêu biểu, có uy tín trong đồng bào dân tộc và ở địa phương” đã đƣợc chỉ đích danh trong văn kiện của Đảng, dựa vào đó làm căn cứ chính trị cho các văn kiện khác sau này và chính thức đƣợc sử dụng. Điển hình là Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ƣơng khóa IX về công tác dân tộc có nội dung: “Có chính sách động viên, bồi dưỡng, hướng dẫn và phát huy vai trò của những NCUT trong đồng bào dân tộc trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các địa bàn dân cư vùng dân tộc và miền núi”[20]. Kết luận số 57-KL/TW ngày 03/11/2009 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa IX về công tác dân tộc; Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa XI về tăng cƣờng và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới; Trong đó có Kết luận số 68-KL/TW ngày 10/9/2013 của Ban 15 Bí thƣ Trung ƣơng Đảng khóa XI về xây dựng lực lƣợng cốt cán và phát huy vai trò của NCUT trong cộng đồng ngƣời Hoa; Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 20/10/2015 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng khóa XI về tăng cƣờng và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Và gần đây nhất làVăn kiện Đại hội XIII của Đảng về việc yêu cầu: “Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, NCUT tiêu biểu trong vùng dân tộc thiểu số”[22].
Từ các khái niệm, qui định nêu trên chúng ta có thấy đƣợc: Trong mỗi dân tộc ở mỗi khu vực đều có những NCUT- là ngƣời ở trong cộng đồng hoặc có mối liên hệ với đồng bào dân tộc. Họ có uy tín, ảnh hƣởng nhất định với một bộ phận ngƣời DTTS trong một khu vực nhất định, một số ngƣời uy tín lớn còn có uy tín, ảnh hƣởng đối với một bộ phận đồng bào ngƣời DTTS ở nƣớc ngoài và ngƣợc lại một số ngƣời có uy tín đang định cƣ ở nƣớc ngoài hiện vẫn còn ảnh hƣởng, tác động đối với đồng bào DTTS ở trong nƣớc - thƣờng dựa vào địa vị xã hội đƣợc pháp luật quy định (những ngƣời quản lý một đơn vị hành chính), các quan hệ truyền thống, tập quán nhƣ trƣởng họ, già làng, dựa vào thần quyền giáo lý (chức sắc tôn giáo, hoạt động tín ngƣỡng)… hoặc có đƣợc nhờ các tri thức trong các lĩnh vực đời sống xã hội. Những NCUT thƣờng đƣợc đồng bào dân tộc tìm đến bày tỏ tâm tƣ, nguyện vọng, tham khảo ý kiến đối với những vấn đề ngƣời dân đang vƣớng mắc, chƣa tìm đƣợc hƣớng giải quyết. Những ý kiến, lời nói, việc làm của NCUTcó tác động sâu sắc đến đồng bào dân tộc, thậm chí có thể tác động, định hƣớng cho quần chúng hành động theo cả hƣớng tích cực và tiêu cực.
Nhƣ vậy, tuy cách viết mỗi giai đoạn có khác nhau nhƣng về mặt ý nghĩa không thay đổi, đều nói về uy tín của một cá nhân trong cộng đồng dân cƣ và trong phạm vi nghiên cứu của đề tài là NCUT trong vùng đồng bào DTTS.