Đặt vấn đề Phụ nữ có vai trò quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người lao động trong xã hội. Bằng lao động sáng tạo của mình, họ đã góp phần làm giàu cho xã hội, làm phong phú cuộc sống con người. Phụ nữ luôn thể hiện vai trò của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, cụ thể là trong lĩnh vực hoạt động vật chất, phụ nữ là một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người. Không chỉ sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra con người để duy trì và phát triển xã hội.
Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sáng tạo nền văn hóa nhân loại. Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước nào, dân tộc nào cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ. Ở Việt Nam phụ nữ chiếm 50,7% dân số cả nước, họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và càng ngày càng thể hiện vị trí và vai trò của mình trong xã hội. Trong suốt chặng đường đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước, lịch sử Việt Nam đã ghi nhận những cống hiến to lớn của phụ nữ.
Trong công cuộc đổi mới đất nước của Đảng, họ luôn giữ gìn, phát huy và nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, năng động, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn để vươn lên trong học tập, lao động, phấn đấu đạt những thành tích xuất sắc trên mọi lĩnh vực. Trong gia đình, mỗi phụ nữ vừa là người con dâu, người vợ, người mẹ, người thầy của các con, người thầy thuốc của gia đình. Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng… Ở khu vực nông thôn, cùng với việc tích cực tham gia vào quá trình phát triển kinh tế gia đình, mỗi phụ nữ còn tham gia nhiều hoạt động xã hội, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế, ổn định an ninh quốc phòng địa phương làm thay đổi diện mạo khu vực nông thôn Việt Nam. Cao Tân là một xã miền núi của huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn, là nơi sinh sống của 4 dân tộc anh em trong đó: Dân tộc Tày chiếm 53,02% dân số, dân tộc mông chiếm 30,3%, dân tộc dao chiếm 14,6%, kinh chiếm 2,08%.
Trình độ dân trí của người dân còn thấp, nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông lâm nghiệp. Là địa bàn cư trú của đại đa số các dân tộc thiểu số, nên sự phát triển của đồng bào các n 2 dân tộc gắn liền với sự phát triển của xã Cao Tân.5% dân số là phụ nữ, lực lượng này đã và đang có những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn xã. Tuy nhiên, sự đóng góp của phụ nữ lại chưa nghi nhận một cách xứng đáng, chưa tương xứng với vị trí, vai trò của họ trong nền kinh tế, trong các quan hệ xã hội và trong đời sống gia đình. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, người phụ nữ phải “ nặng gánh hai vai”, vừa phải làm tốt công việc xã hôi, vừa đảm nhiệm vai trò làm vợ, làm mẹ trong khi quỹ thời gian của họ cũng chỉ có như mọi người, sức khỏe lại hạn chế… Để cố gắng làm tốt, họ phải nỗ lực và hy sinh, nhưng quyền lợi về mọi mặt của họ lại chưa được quan tâm đúng mức.
Vậy vấn đề đặt ra ở đây là: làm sao để nâng cao nhận thức về vai trò của người phụ nữ cho người dân và cho chính người phụ nữ? Làm sao để phát huy hơn nữa vai trò của người phụ nữ trong việc phát triển kinh tế cho chính gia đình mình? Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên và sự nhận thức sâu sắc về những tiềm năng to lớn của phụ nữ, những cản trở sự tiến bộ của phụ nữ trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế nông thôn em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội nông hộ tại xã Cao Tân – huyện Pác Nặm – tỉnh Bắc Kạn”. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu chung Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội tại xã Cao Tân – huyện Pác Nặm – tỉnh Bắc Kạn từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn xã Cao Tân.2 Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu vai trò của người phụ nữ trong gia đình với những công việc nội trợ và chăm sóc con cái. - Tìm hiểu thực trạng vai trò của phụ nữ trong việc tạo lập thu nhập cho gia đình và tham gia các hoạt động xã hội.
- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ nông thôn. Qua đó, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn miền núi trên địa bàn xã n 3 1. Ý nghĩa của đề tài 1.Ý nghĩa trong khoa học Đề tài là cơ hội cho em được học tập, rèn luyện, đi sâu vào thực tế, được áp dụng kiến thức đã học vào thực tế. Tích lũy thêm những kiến thức mới cho bản thân nhằm phục vụ cho công tác sau này.
Ngoài ra, đề tài còn là cơ hội cho em được nghiên cứu, tìm hiểu về đời sống của người dân trên địa bàn xã nơi mình đang sinh sống, từ đó hiểu thêm về tình hình tại địa phương và có những dự định ấp ủ để phát triển quê hương.Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp nhìn nhận đúng hơn về vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình. Từ đó nâng cao nhận thức của chính người phụ nữ và người dân về vai trò của phụ nữ, góp phần phát huy hơn nữa vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế của chính gia đình họ, đóng góp vào sự phát triển chung của địa phương. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Một số khái niệm 2. Khái niệm Giới tính và Giới * Giới tính: là một thuật ngữ được các nhà khoa học xã hội và các nhà sinh học dùng để chỉ một phạm trù sinh học, trong ý nghĩa đó nam và nữ khác nhau về mặt sinh học, tạo nên hai giới tính: nam giới và nữ giới [7]. Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất con người và di truyền nòi giống. Ví dụ như sự khác nhau về hình dáng bên ngoài cơ thể (nam giới cao to hơn, nặng hơn, giọng nói trầm hơn, thể lực mạnh hơn phụ nữ), sự khác nhau về cấu tạo NST, hormone…, sự khác nhau về chức năng sinh học, tạo nên vai trò của giới tính (phụ nữ có thai, sinh con và cho con bú, nam giới sản xuất ra tinh trùng để thụ thai).
Những đặc trưng mang tính sinh học này có ngay từ khi con người được sinh ra, chúng ổn định và hầu như không biến đổi ở cả nam và nữ [7]. * Giới: Giới không nói đến nam hay nữ mà chỉ mối quan hệ giữa họ. Giới không phải là sự xác định sinh học – như kết quả những đặc điểm về giới tính của nam hay nữ, mà giới là do xã hội xác lập nên. Nó là một nguyên tắc tổ chức xã hội có thể kiểm soát tiến trình sản xuất, tái sản xuất, tiêu thụ và phân phối [7].
Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến vai trò trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. Giới đề cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh cụ thể. Giới chỉ mối quan hệ xã hội và tương quan giữa địa vị xã hội của nam và nữ trong bối cảnh xã hội cụ thể. Khi nói đến giới, là nói đến các điều kiện và yếu tố xã hội quy định vị trí và hành vi xã hội của mỗi giới trong một hoàn cảnh cụ thể.
Như vậy, giới được xác định trong mối quan hệ giữa nam và nữ về quyền lực, vị trí xã hội và phân công lao động [7]. Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới * Đặc điểm về giới: - Đặc trưng xã hội n 5 - Do dạy và học mà có - Đa dạng - Biến đổi theo hoàn cảnh xã hội - Thay đổi theo không gian và thời gian [7]. * Nguồn gốc giới: - Trong gia đình, bắt đầu từ khi sinh ra, đứa trẻ được đối xử tùy theo nó là trai hay gái. Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà, bố mẹ, anh chị.
Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình. - Trong nhà trường, các thầy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt về giới cho học sinh. Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện tử, các ngành cần có thể lực tốt. Học sinh nữ được hướng theo các ngành như may, thêu, trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỉ mỉ [7].
* Sự khác biệt về giới Phụ nữ luôn được xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình. Thiên chức của phụ nữ là làm vợ, làm mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và cũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới. Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình. Họ cứng rắn hơn về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc.
Đặc trưng này cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, còn công việc xã hội, ít bị ràng buộc bởi con cái và gia đình. chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội [7]. Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội.