PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Xu hướng gia đình đơn thân nuôi con đã và đang trở lên phổ biến hơn ở Việt Nam trong thời gian gần đây. Một thực tế là xu hướng này có chiều hướng gia tăng theo tỷ lệ ly hôn và lượng trí thức nữ giới tại các thành phố lớn, cũng như nhiều tên tuổi văn nghệ sĩ nổi tiếng công khai giãi bày chuyện sinh con một mình hoặc đơn thân nuôi con sau khi ly hôn.Trong nghiên cứu này, tôi quan tâm đến đối tượng là phụ nữ làm mẹ đơn thân, bởi đây là nhóm phụ nữ lựa chọn sinh con và nuôi con một mình do nhiều hoàn cảnh khác nhau như đơn thân do chồng mất, đơn thân do ly hôn, ly thân, đơn thân do bị chồng ruồng bỏ. Mỗi phụ nữ đơn thân lại có một hoàn cảnh khác nhau và mỗi người lại gặp phải những khó khăn khác nhau trong cuộc sống.
Trong xã hội, từ xưa đến nay, gia đình vẫn luôn là thiết chế cơ bản nhất và gắn liền với đời sống của mỗi con người. Gia đình liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống, chăm sóc và giáo dục con cái. Vì vậy, mỗi cá nhân không thể tồn tại và phát triển đơn lẻ mà phải gắn liền với gia đình và xã hội. Nhiều nhà nghiên cứu xã hội học cho rằng, các hình thái của đời sống gia đình trong xã hội là hết sức đa dạng, muôn hình muôn vẻ.
Có rất nhiều hình thái gia đình khác nhau như gia đình hạt nhân, gia đình mở rộng, gia đình gốc, gia đình phụ hệ, gia đình mẫu hệ… Đây đều là những hình thái gia đình với ít nhất hai thế hệ trong cùng một gia đình, có đầy đủ cả vợ và chồng, con cái và có thể có cả các thế hệ trước cùng chung sống. Vợ và chồng cùng chăm lo cho gia đình và nuôi dạy các con. Tuy nhiên do nhiều nhân tố chủ quan và khách quan, gia đình Việt Nam hiện đại có nhiều biến đổi về cấu trúc, mô hình và văn hóa tổ chức đời sống so với gia đình truyền thống. Do đó, một hình thái gia đình đã xuất hiện, gắn bó và tồn tại song song cùng những hình thái gia đình truyền thống và gia đình hiện đại, đó là hình thái “gia đình mẹ (cha) đơn thân, nuôi con theo kiểu single mom” (Mai Huy Bích, 2009).
Hình thái này có khả năng lan rô ̣ng và trở thành mô ̣t trong những mô hình gia đình của xã hô ̣i Viê ̣t Nam, đă ̣c biê ̣t ở các đô thi ̣lớn. 1 z Theo “Kết quả điều tra gia đình Việt Nam năm 2006”, 2.5% dân số sống đơn thân. Trong đó, phụ nữ đơn thân chiếm đa số với tỷ lệ 87. Đồng thời, theo một nghiên cứu năm 2007, cũng đã có hơn 2 triệu người phụ nữ tuổi trưởng thành chọn lối sống độc thân, trong đó ¾ chấp nhận nuôi con một mình [11].
Trên thực tế, trước những thay đổi của xã hội, câu chuyện bà mẹ đơn thân hiện nay đã trở nên không quá xa lạ với nhiều người và đã được chấp nhận, miễn là người phụ nữ đó đủ năng lực nuôi dạy con cái. Tuy nhiên, có một thực tế không thể phủ nhận, những người phụ nữ đơn thân nuôi con dù ở mọi tầng lớp, lứa tuổi trong xã hội đều phải chịu áp lực rất lớn khi phải một mình gánh cả trách nhiệm của cha và mẹ - tự lo toan kinh tế và phải tự hoàn thành mọi trách nhiệm trong gia đình, chăm sóc và nuôi dạy con cái. Trẻ em sẽ dựa vào mẹ nhiều hơn bởi vì đặc điểm của họ là bảo vệ, nuôi dưỡng, từ một mối quan hệ mẹ con được thành lập từ khi mang thai cho đến lúc sinh con và tiếp tục chăm lo khi đứa trẻ lớn khôn. Khi không có người đàn ông bên cạnh, bà mẹ đơn thân phải trở thành trụ cột gia đình, vừa làm cha, vừa làm mẹ, lúc này vai trò của họ sẽ nặng nề hơn.
Do đó, mẹ đơn thân không có đủ thời gian cần thiết để hỗ trợ, chăm sóc, giám sát con cái. Điều đó ảnh hưởng đến hoạt động chăm sóc, nuôi dạy con cái của họ. Hiện nay, trong các nghiên cứu khoa học xã hội thì vấn đề phụ nữ đơn thân nói chung và phụ nữ đơn thân nuôi con cũng đã ít nhiều được bàn tới. Tuy nhiên, vấn đề này chỉ được đề cập đan xen trong các công trình nghiên cứu về phụ nữ nông thôn, các nghiên cứu về ly hôn hay các công trình nghiên cứu về đời sống của nhóm phụ nữ nghèo.Vì thế, câu hỏi đặt ra là: phụ nữ đơn thân chăm sóc và giáo dục con cái như thế nào khi họ phải dành nhiều thời gian cho việc mưu sinh? Họ gặp những khó khăn gì trong chăm sóc, giáo dục con cái? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hoạt động chăm sóc, giáo dục con cái của họ? Để làm rõ các câu hỏi trên, tôi thực hiện đề tài “Vai trò của phụ nữ đơn thân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội trong hoạt động chăm sóc, giáo dục con cái hiện nay”.
Từ đó đưa ra khuyến nghị nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ đơn thân trong hoạt động chăm sóc, giáo dục con cái. Ý nghĩa nghiên cứu 2. Ý nghĩa lý luận Luận văn tập trung làm sáng tỏ một số khái niệm như vai trò, gia đình, phụ nữ đơn thân, chăm sóc, giáo dục và vận dụng các quan điểm lý thuyết xã hội học để tiến hành nghiên cứu như: lý thuyết vị thế vai trò , lý thuyết cấu trúc chức năng, lý thuyết hành vi lựa chọn hợp lý.Các khái niệm và lý thuyết trên được vận dụng trong việc phân tích vai trò của phụ nữ đơn thân trong hoạt động chăm sóc giáo dục con, nhằm mở rộng sự hiểu biết đối với nhóm phụ nữ làm mẹ đơn thân – một nhóm xã hội hiện nay đang có xu hướng gia tăng ở Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu có độ tin cậy về đặc điểm xã hội của phụ nữ làm mẹ đơn thân cũng như hoạt động chăm sóc, giáo dục con cái của nhóm phụ nữ này.
Từ kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra khuyến nghị để góp phần nâng cao vai trò của phụ nữ làm mẹ đơn thân trong hoạt động chăm sóc và nuôi dạy con cái. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các cá nhân, tổ chức quan tâm khi nghiên cứu về phụ nữ đơn thân và hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ em trong gia đình. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3. Nghiên cứu về gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục con cái Tác giả Lê Như Hoa với công trình “Gia đình và giáo dục con cái” đăng trên Tạp chí Khoa học phụ nữ, 1993 chỉ ra rằng: “Gia đình là trường học đầu tiên của mỗi cá nhân và cha mẹ là người thầy đầu tiên dậy cho con người những đức tính, tình cảm tốt đẹp theo truyền thống văn hóa của dân tộc.
Sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em do nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố giáo dục đóng vai trò quyết định”. Làm cha mẹ có nghĩa là làm nhà giáo dục đối với chính con mình mà muốn giáo dục tốt, trước hết phải hiểu được con trẻ. Từ khi còn trong bụng mẹ cho đến lúc trưởng thành, đứa trẻ phải trải qua nhiều giai đoạn lứa tuổi và ở mỗi lứa tuổi lại có sự phát triển về sinh lý và tâm lý đặc trưng [6]. Trong bài viết này, tác giả đặt ra câu hỏi: “Vậy giáo dục trẻ những gì và phương pháp giáo dục như nào là đúng?”.
Trong thực tế, có những vấn đề về nhận thức và phương pháp giáo 3 z dục trẻ đặt ra tưởng chừng đơn giản nhưng đó lại là vấn đề đang được đặt ra, trong công trình này, tác giả chỉ ra việc yêu thương con cái ở mức độ nào là phù hợp, bên cạnh đó đề ra phương pháp kỷ luật con như thế nào để chấp nhận được. Bầu không khí đạo đức trong gia đình có ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục trẻ. Lối sống của cha me, cách ứng xử, giao tiếp, .nếu đúng đắn sẽ tạo được sự ảnh hưởng tốt đẹp cho trẻ và ngược lại, cũng gây ảnh hưởng xấu đến việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ. Tác giả cho rằng vấn đề đáng chú ý là giáo dục con cái có khả năng và chủ động tiếp nhận ảnh hưởng tốt của bạn bè và cần phải giáo dục để chúng biết phân biệt phải trái, tránh được những ảnh hưởng xấu.
Bên cạnh đó, cần phải quan tâm đến một lĩnh vực giáo dục đặc biệt nữa đối với con cái, đó là giới tính. Cần dậy cho con cái những tri thức về giao tiếp và ứng xử với bạn bè khác giới.Trong xã hội mà cơ chế thị trường với nhiều thành phần kinh tế khiến cho môi trường xã hội biến động, đa dạng và phức tạp, cùng với chính sách mở cửa, văn hóa giao lưu quốc tế được mở rộng, các thiết chế gia đình và xã hội bị xói mòn, các tệ nạn xã hội gia tăng thì những người làm cha me phải hết sức cảnh giác, chú ý theo dõi những biến động của con cái mình, không được bàng quan, thiếu trách nhiệm, không nên năng về lo làm ăn và làm giàu mà coi nhẹ việc “giáo dục con cái”. Nghiên cứu “Tìm hiểu chức năng và đặc điểm của gia đình người Việt – Dưới giác độ xã hội học lịch sử” của tác giả Phan Đại Doãn (1994): Ở Việt Nam, những quan hệ gia đình và dòng họ có thể coi là sự thu hẹp của các quan hệ xã hội. Gia đình là một cộng đồng nhỏ, dòng họ và làng xã là cộng đồng lớn hơn, bao gồm nhiều cộng đồng nhỏ này.
Mặt khác, gia đình Việt Nam lại có tính kế thừa những quan hệ giáo dục, đạo đức, kinh tế. Sự suy thoái của gia đình cũng ảnh hưởng đến xã hội, chẳng hạn giáo dục gia đình sút kém sẽ đưa ra cho xã hội sản phẩm con người không thật tốt. Vì vậy, gia đình có vai trò rất quan trọng đối với xã hội nói chung và đối với mỗi cá nhân trong gia đình nói riêng. [3] Cuốn sách Giáo trình xã hội học gia đình của tác giả Lê Thị Quý (2011) đã đề cập đến hình thái và chức năng của gia đình: Từ khi xuất hiện, gia đình đã tồn tại những hình thái khác nhau.
Sự biến đổi kinh tế, xã hội của nhân loại dẫn đến 4 z sự thay thế lẫn nhau của các hình thái gia đình.