lời mở đầu.Và nhiều khi, tứ đức, tam tòng không còn dừng lại ở mặt tên gọi mà đã hoà tan trong tất cả mọi lời giáo huấn. Điều đó không thể khác khi tác giả của nữ huấn hầu hết đều là những sĩ tử đã qua cái học “cửa Khổng sân Trình”, và đó cũng là quan niệm mang tính qui định của thời đại về người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Nhưng tóm lại, dù nội dung giáo dục trong nữ huấn rất phong phú, rất chi tiết và tỉ mỉ, thậm chí “lôi thôi” như cách nói của Phạm Quỳnh, hay dù nó có tồn tại dưới nhiều tên gọi khác nhau như “tứ đức” hay “ba vuông bảy tròn”; hoặc không dừng lại ở ba mối quan hệ với “phụ” (cha), với “phu” (chồng), với “tử” (con) như “tam tòng”đề ra mà là hàng loạt quan hệ phức tạp trong suốt cuộc đời người phụ nữ cùng với những phép ứng xử khác nhau…, theo chúng tôi, có thể khái quát thành bốn nội dung cơ bản sau: Tứ đức; hệ thống quan hệ và cách ứng xử; phép tề gia; 17 phép dưỡng sinh. Chính vì vậy, về đại cục, chúng tôi phân tích nội dung giáo dục trong nữ huấn theo những mối cơ bản này.
Giáo dục về tứ đức, yêu cầu đầu tiên và suốt đời đối với người phụ nữ Có mặt trong hầu khắp các tác phẩm nữ huấn, tứ đức có vai trò như một nội dung không thể thiếu trong cách thức đào tạo người phụ nữ truyền thống. Chúng tôi cũng muốn bàn thêm về tứ đức từ quan niệm khởi thuỷ trong kinh điển Nho gia tới khi đi vào cách dạy của nữ huấn. Khái niệm tứ đức được biết đến từ thời Tiên Tần, trong sách Chu Lễ, thiên Thiên quan, chương Chủng tể hạ đã nêu: Quan Cửu tần nắm phép học của phụ nữ, dạy Cửu ngự phụ đức, phụ ngôn, phụ dung, phụ công. Nhưng phải tới thời Đông Hán, khi Ban Chiêu(6) soạn Nữ giới để răn dạy con gái trước khi về nhà chồng thì tứ đức mới được lồng vào những nội hàm thật cụ thể: Đức của người phụ nữ không ắt phải tài đức khác thường.
Ngôn của người phụ nữ không ắt phải tranh luận sắc sảo. Dung của người phụ nữ không ắt phải nhan sắc mĩ lệ. Công của người phụ nữ không ắt phải khéo léo hơn người. U nhàn, trinh thục, giữ tiết chỉnh tề, làm việc có xấu hổ, động tĩnh có phép tắc, đó là đức của người phụ nữ.
Chọn lời mà nói, không nói lời xấu, lựa đúng lúc rồi mới nói thì không bị người chán, đó là ngôn của người phụ nữ. Tẩy giặt ô uế, trang phục sạch sẽ, chỉnh tề, tắm gội phải thời, thân không cáu nhơ, đó là dung của người phụ nữ. Chuyên tâm canh cửi, không ham cợt đùa, cơm rượu tươm tất để đãi tân khách, đó là công của người phụ nữ. [79: 5b, 6a] Theo nhà nghiên cứu Trung Quốc Trương Minh Kỳ, đây cũng chính là nội hàm cơ sở mà sau này Trịnh Huyền dùng để chú về tứ đức trong Chu Lễ cũng như trong việc giảng thuật về tứ đức trong cái học của phụ nữ đời sau.
Như vậy, rõ ràng nữ huấn đã có vai trò như một nẻo đường cụ thể hoá nguyên lý của Nho gia, và đồng thời chính nó cũng có khả năng quay lại bổ sung cho nguyên lý ấy. Từ đời Tống về sau, do ảnh hưởng của Lý học, tứ đức bị tuyệt đối hoá, cực đoan hóa, coi đó là những phẩm chất áp đặt cho người phụ nữ, phủ định tất cả những gì ngoài tứ đức, dù là những tài năng đặc biệt. Cái đẹp ở người phụ nữ được đo bằng đạo lý, và cái đẹp đạo lý lấn át tất cả: Tứ đức đầy đủ tuy tài vụng, 18 tính ngu, nhà nghèo, mặt mũi xấu xí cũng không thể luỵ đến đức hạnh. Tứ đức mất, tuy tài năng đặc biệt, nhan sắc diễm lệ cũng không thể che nổi cái xấu.
(Tứ đức bị, tuy tài chuyết, tính ngu, gia bần, mạo lậu, bất năng luỵ kì hiền. Tứ đức vong, tuy kì năng dị tuệ, quý nữ phương tư bất năng yểm kỳ ác- Lã Tân Ngô khuê phạm) [79: 22b]. Đó cũng là quan niệm “không có tài là đức”, “không có tài là phúc” của Lý học đời Tống. Tứ đức trong nữ huấn Việt Nam tất nhiên cũng lấy thiên Phụ hạnh của Ban Chiêu làm tinh thần căn bản.
Có khi nó được giải thích tỉ mỉ như những định nghĩa, cũng có khi nó hiện diện dưới hình thức những lời khuyên răn cụ thể về lời ăn tiếng nói, nết ở, việc làm hàng ngày. Trong số những văn bản chúng tôi đã khảo được, thì định nghĩa về “tứ đức” trong Huấn nữ tử ca của Nguyễn Huy Oánh được coi là định nghĩa công phu nhất. Với 632 câu lục bát của toàn tác phẩm, riêng phần giáo dục về tứ đức chiếm tới 124 câu, trong đó “dung” gồm 20 câu, “ngôn” gồm 16 câu, “công” gồm 18 câu và riêng “hạnh”chiếm tới 72 câu. Đây cũng là định nghĩa mang bóng dáng của Phụ hạnh nhiều nhất.
Nếu lập một bảng so sánh về những nội dung “dung”, “công”, “ngôn”, thì chúng ta dễ thấy Nguyễn Huy Oánh gần như đã diễn Nôm lại quan điểm trong Phụ hạnh. Riêng nết “hạnh”, để đạt được yêu cầu “u nhàn, trinh thục, giữ tiết chỉnh tề, làm việc có xấu hổ, động tĩnh có phép tắc”, Huấn nữ tử ca đã đặt ra một loạt những điều ngăn cấm, phòng phạm đầy áp đặt: Từ cách ngồi thì không “động chân”, đi không “động quần”, không “đoái lại thẫn thờ”, bước không “đổ giẹo đổ xiêu nghiêng mình”, không mím miệng, không nghiêng vai, nghiêng tóc, nghiêng tai, không miệng bĩu môi dề, không khi ngửa mặt, khi cúi đầu, không liếc trước trông sau, cau đầu mày, vin lưng, hay thở dài, nói hở hàm răng, chưa nói đã cười, nói năng xô bồ, không tham ăn, tham uống… [77: 11a – 12b]. Người phụ nữ phải chuyên tâm trong mọi lúc, mọi nơi, phải luôn giữ mình ở trạng thái đoan chính, không khác thường. Người phụ nữ phải hạn chế bước chân ra tới ngoài, không coi cửa, không ngồi chơi sân, “ở thì náu tiếng náu hình, Chớ cho kẻ lạ dòm hình biết ta”.
Đến khi có bước chân ra đến ngoài, phải giữ vẻ nghiêm nghị, uy nghi, tránh lẳng lơ, cợt ghẹo dễ sinh thói loàn đơn. Dầu có ai trêu đùa, cũng phải giữ thái độ “làm thinh cài tóc, đắp tai sá nào” [77: 12b]. Trong cách đối xử với bạn bè, chủ trương: 19 Trai nào chẳng phải họ hàng, Chớ hề chào hỏi, lánh đường hiềm nghi. Gái nào nết chẳng nhu mì, Chớ hề làm bạn sớm khuya ở gần.
[77: 11a] Đặc biệt, trong quan hệ gái trai phải hết sức cẩn trọng: Gái trai nghiêm cẩn trong ngoài, Cửa phòng chẳng khả để ai đến gần. Chữ rằng nam nữ dị quần, Phòng xa cho khỏi lửa gần bén rơm. [77: 12a] Tất cả những điều ngăn cấm, răn đe trên cuối cùng cũng chỉ nhằm bảo vệ người con gái tránh khỏi “mắc tiếng bờm xơm”, để “vững một bề tiết trinh”. Đó cũng là giá trị cao nhất để đảm bảo hạnh phúc sau này cũng như trong việc báo đáp công ơn sinh thành của cha mẹ.
Và để giữ gìn điều đó, không có cách nào hơn là buộc họ luôn phải giam kín mình sau những tấm bình phong nhằm che chắn mọi “gió bụi”, mọi “cám dỗ” bên ngoài. Tuy nhiên, trong hầu khắp các văn bản nữ huấn Việt Nam, ngoài Huấn nữ tử ca của Nguyễn Huy Oánh, những lời khuyên về tứ đức không phải lúc nào cũng nặng nề như vậy. Có khi nó được định nghĩa rất giản đơn và đầy tinh thần khích lệ: Công là đủ mùi xôi, thức bánh, Nhiệm nhặt thay đường chỉ mũi kim. Dung là nét mặt ngọc trang nghiêm, Không tha thướt, không chiều lả tả.
Ngôn là dạy trình thưa vâng dạ, Hạnh là đường ngay thảo kính tin. Xưa nay mấy kẻ dâu hiền, Dung, công, ngôn, hạnh là tiên phàm trần. [48: 28] Và phần lớn nó hoá thân vào những lời khuyên nhủ, chỉ bảo rất ân cần, gần gũi từ cách gọi dạ thưa vâng, ăn nói nhu hoà, biết chào mời bậc tôn trưởng, không nên nhiều lời khôn ngoan; hay trong việc lấy nước 20 têm trầu, kim chỉ cửi canh, buôn bán sao cho thành thạo, nhanh nhẹn, chuyên cần; hay từ cách ăn mặc giản dị, dịu dàng không ưa phấn hương chải chuốt; và đặc biệt khi bước chân ra tới đường, biết chào già yêu trẻ nhưng phải hết sức đoan chính, tránh tiếp xúc với con trai, cẩn thận khi đi đêm, nơi bến đò, nhà hàng… Chúng tôi nhận thấy, tứ đức đề ra trong nữ huấn Việt Nam dù vẫn chịu sự chi phối bởi quan niệm của Ban Chiêu, nhà nữ huấn gây ảnh hưởng mạnh đầu tiên của Trung Quốc; dù cũng có khi nặng về ngăn cấm (như trường hợp Huấn nữ tử ca của Nguyễn Huy Oánh là tiêu biểu) nhưng nó được cụ thể hoá, chi tiết hoá hơn, nó gắn liền chặt chẽ với những biểu hiện thường ngày trong cuộc sống, nó mang đậm tính khuyên nhủ và khích lệ, khiến nó linh hoạt, phong phú và dễ cảm hoá mà không phải những công thức, nguyên tắc khô cứng, ép buộc. Giáo dục về tứ đức được coi là một yêu cầu thiết yếu, nó thường được đặt ra ở vị trí khuyên răn đầu tiên trong mỗi bài nữ huấn, từ quá trình người con gái còn tại gia, nó là sản phẩm do sự dạy dỗ công phu của cha mẹ.
Và thực chất, tứ đức chính là thước đo, là tiêu chuẩn hàng đầu để người con gái có thể đi xuất giá. Tuy nhiên, những lời răn dạy về tứ đức vẫn đi theo người phụ nữ cho tới suốt đời. Dù đã là một người vợ, người mẹ thì vẫn rất cần đến vẻ đẹp của nữ dung ấy. Từ lời ăn tiếng nói phải luôn giữ gìn dù là với con cái: Làm mẹ chớ ăn càn, nói dở, Với con đừng chửi rủa quá lời, Hay chi thô tục những người, Hôm nay cụ cụ, ngày mai bà bà.
Gieo tiếng ra chết cây, gãy cối, Mở miệng nào có ngọn có ngành, Đến tay bụt cũng không lành, Chồng con khinh rẻ, thế tình mỉa mai! [48: 22- 23] Dạy dỗ về “công” chính là sự chuẩn bị để phát huy cao độ trong vai trò “tề gia” sau này. Đặc biệt nết “hạnh” mà chủ yếu là liên quan đến vấn đề trinh tiết được thường xuyên đặt ra trong suốt cuộc đời người phụ nữ: Khi chưa 21 lấy chồng, khuyên phải giữ gìn như một phẩm chất tất yếu để có thể xây dựng hạnh phúc tương lai; lấy chồng rồi phải chuyên nhất, nhưng nếu không may chồng mất sớm, người phụ nữ vẫn phải giữ gìn “thờ người nơi chín suối”.