Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn đƣợc kết cấu thành 2 chƣơng, 5 tiết. 11 NỘI DUNG Chƣơng 1 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ QUYỀN TRẺ EM 1. Một số quan niệm cơ bản về quyền trẻ em 1. Các khái niệm có liên quan Thứ nhất, khái niệm quyền “Quyền” theo nghĩa tiếng Việt là cái mà luật pháp, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hƣởng thụ, tận dụng, thi hành.
và khi thiếu đƣợc yêu cầu để có, nếu bị tƣớc đoạt có thể đòi hỏi và giành lại. (“Quyền” là nguyên tắc đạo đức xác định và thừa nhận sự tự do bình đẳng và sự tự do hành động của con ngƣời trong xã hội nhất định. Khái niệm quyền liên quan đến hành động mà cụ thể là liên quan đến tự do hành động, nghĩa là thoát khỏi những cƣỡng chế về mặt thể xác, khỏi tình trạng ép buộc hay bị can thiệp từ ngƣời khác). Theo từ điển Bách khoa Việt Nam tập 3: “Quyền là những hành vi hợp pháp mà các cá nhân, pháp nhân, nhà nƣớc thực hiện không ai có thể ngăn cấm.
Việc thực hiện quyền phụ thuộc vào ý chí của chủ thể không bắt buộc trừ những trƣờng hợp quyền đồng thời là nghĩa vụ, trách nhiệm. Quyền của chủ thể có thể là quyền tự nhiên, vốn có, không do ai quy định cho phép và cũng có thể trên cơ sở quy định của pháp luật, trên cơ sở ủy quyền từ chủ thể khác”. 634] Nhƣ vậy có thể hiểu :Quyền là những nguyên tắc đạo đức được xác định và thừa nhận sự tự do bình đẳng và sự tự do hành động của chủ thể trong xã hội nhất định và không ai có thể xâm phạm được. Trong mỗi xã hội, quyền là những đòi hỏi cơ bản và chính đáng của một ngƣời phải đƣợc hƣởng và đƣợc làm.
Đó chính là quyền đƣợc công nhận về mặt pháp lý, quy định trách nhiệm, nghĩa vụ buộc ngƣời khác phải tôn trọng, 12 bảo vệ và đáp ứng. Mỗi ngƣời đều đòi hỏi quyền cho bản thân và những ngƣời khác cũng vậy. Vì thế, mọi thành viên trong cộng đồng và xã hội đều phải có nghĩa vụ đáp ứng quyền tƣơng ứng. Khi đòi hỏi đáp ứng hay tôn trọng một quyền nào đó của bản thân; cũng có nghĩa là bản thân phải có nghĩa vụ không làm bất cứ điều gì xâm hại hoặc lấy bớt hoặc tƣớc đi quyền của ngƣời khác.
Thứ hai, khái niệm quyền con người. Có rất nhiều định nghĩa về quyền con ngƣời, mỗi định nghĩa là một sự biểu hiện khác nhau ở góc độ nhìn nhận về quyền con ngƣời. Tuy nhiên, tổng hợp lại có thể chia thành ba nhóm quan niệm chủ yếu về quyền con ngƣời nhƣ sau: - Quan niệm thứ nhất: Bắt nguồn từ chỗ coi con ngƣời là một thực thể tự nhiên, nên quyền con ngƣời phải là quyền "bẩm sinh", là "đặc quyền", nghĩa là quyền con ngƣời, quyền lợi của con ngƣời với tƣ cách là ngƣời, gắn liền với cá nhân con ngƣời, không thể tách rời. Quan điểm này đƣợc các đại biểu tƣ tƣởng của giai cấp tƣ sản ở thế kỷ XVII, XVIII nhƣ Crotius, Hobbes, Kant, Locke, Spinoza, Rousseau hoàn thiện và nêu ra trong học thuyết về pháp luật tự nhiên.
Trƣờng phái này cho rằng, quyền tự nhiên, pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật nhà nƣớc. Xuất phát từ quan điểm này, nhà xã hội học Jacques Mourgon đƣa ra định nghĩa: "Quyền con ngƣời là những đặc quyền đƣợc các quy tắc điều khiển mà con ngƣời giữ riêng lấy trong các quan hệ của mình với các cá nhân và với chính quyền" [30, tr. Định nghĩa này chủ yếu đề cập đến quyền con ngƣời ở khía cạnh tự nhiên của nó. - Quan niệm thứ hai: Trái với quan niệm thứ nhất, quan niệm này lại chỉ đặt con ngƣời và quyền con ngƣời trong mối quan hệ xã hội.
Quan niệm này cho rằng, con ngƣời chỉ là một thực thể xã hội, nên quyền của nó chỉ đƣợc xác định trong mối tƣơng quan với các thực thể xã hội khác và vì là quan hệ xã hội nên nó đƣợc chế độ nhà nƣớc, pháp luật điều chỉnh bảo vệ. 13 Quan niệm này có tính tích cực khi coi quyền con ngƣời là một khái niệm có tính lịch sử, đặt con ngƣời trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Vì con ngƣời là thực thể của xã hội, có mối quan hệ phổ biến với xã hội nên quyền con ngƣời cũng luôn gắn liền với đấu tranh giai cấp, đấu tranh chống áp bức bóc lột, đấu tranh chống bạo lực, chống bất công trong xã hội. Cơ sở của quyền con ngƣời ở đây chính là trình độ phát triển của nền kinh tế, văn hóa, xã hội và do chế độ kinh tế, chế độ xã hội quyết định.
- Quan niệm thứ ba: Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề quyền con ngƣời. Xuất phát từ quan niệm coi con ngƣời vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng vấn đề quyền con ngƣời: "Về bản chất bao hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội" [40, tr. Ngƣời ta đƣa ra nhiều cách hiểu khác nhau về quyền con ngƣời, tuy nhiên có thể hiểu quyền con ngƣời là quyền của tất cả mọi ngƣời, các quyền này bắt nguồn từ nhân phẩm vốn có của con ngƣời đƣợc pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Điều này có nghĩa là chính nhân phẩm con ngƣời làm nảy sinh nhu cầu về quyền của con ngƣời và các nhu cầu này đƣợc pháp luật thừa nhận, bảo vệ trở thành quyền con ngƣời.
Quyền con ngƣời bao gồm các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội đó là một thể thống nhất không thể phân chia, không thể ban phát hay chuyển nhƣợng; các quyền có mối quan hệ gắn bó mật thiết chặt chẽ với nhau không thể thực hiện quyền này và lãng quên quyền khác… Nhƣ vậy, “quyền con ngƣời là tổng hợp các quyền và các tự do cơ bản để đánh giá về địa vị pháp lý của cá nhân. Các quyền kinh tế xã hội là cốt lõi của quyền con ngƣời. Nguyên tắc tôn trọng quyền con ngƣời không mâu thuẫn với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế mà kết hợp hài hòa các nguyên tắc đó. Cho nên không thể viện lý do bảo vệ quyền con ngƣời để vi phạm các nguyên tắc nhƣ tôn trọng chủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của các nƣớc, không dùng sức mạnh hoặc đe dọa dùng sức 14 mạnh trong các quan hệ quốc tế.
Quyền con ngƣời gắn bó mật thiết với các quyền cơ bản của dân tộc. Quyền con ngƣời gắn bó chặt chẽ với quyền công dân, trong mối quan hệ qua lại giữa công dân với nhà nƣớc, giữa cá nhân với cộng đồng, phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế- xã hội, lịch sử, văn hóa, dân tộc. Nhân dân Việt Nam trải qua bao gian khổ hy sinh đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ các quyền cơ bản của dân tộc cũng chính là đấu tranh có hiệu quả nhằm đấu tranh bảo vệ quyền con ngƣời. 635] Thứ ba, khái niệm trẻ em.
“Công ƣớc Liên Hợp quốc về quyền trẻ em ghi rõ: “trẻ em là những ngƣời dƣới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn” (Điều 1 công ƣớc Liên Hợp quốc về quyền trẻ em) Ở Việt Nam, luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam quy định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dƣới 16 tuổi” (Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục Việt Nam năm 2004) Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Từ điển bách khoa Việt Nam đã đƣa ra khái niệm về trẻ em: “Trẻ em là giai đoạn phát triển của đời ngƣời từ lúc sơ sinh cho đến tuổi trƣởng thành. Có đặc điểm nổi bật là sự tăng trƣởng và phát triển liên tục về thể chất và tinh thần. Quá trình phát triển của trẻ em trải qua các thời kỳ: sơ sinh bú mẹ, trƣớc khi đi học, đi học và tuổi dậy thì. Ở mỗi thời kỳ có những đặc điểm sinh học khác nhau nên việc nuôi dƣỡng, giáo dục, chăm sóc sức khỏe cũng khác nhau phù hợp với những đặc điểm ở mỗi thời kỳ.
578] Thứ tư, khái niệm quyền trẻ em. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn dành những tình cảm hết sức đặc biệt tới trẻ em. Ngƣời luôn quan tâm, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sớm trở thành những chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc. Tuy không đề cập trực tiếp đến khái niệm ''quyền trẻ em'', nhƣng Hồ Chí Minh luôn tôn trọng, quan tâm đến các quyền lợi cơ bản của trẻ em 15 nhƣ: Quyền đƣợc sống; quyền đƣợc bảo vệ; quyền đƣợc phát triển… mà sau này trong Công ƣớc Quốc tế về Quyền trẻ em đã đƣợc thể hiện rất rõ.
Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về quyền trẻ em, có ngƣời cho rằng: “Quyền trẻ em là tất cả những gì trẻ em cần có để đƣợc sống và lớn lên một cách lành mạnh và an toàn” Cũng có ngƣời cho rằng: Quyền trẻ em là những đặc quyền tự nhiên mà trẻ em đƣợc hƣởng, đƣợc làm, đƣợc tôn trọng và thực hiện nhằm bảo đảm sự sống còn, tham gia và phát triển toàn diện. Và có cũng có ý kiến cho rằng quyền trẻ em chính là biện pháp nhằm bảo đảm cho trẻ em không những là ngƣời tiếp thu thụ động tình thƣơng hay lòng tốt của bất cứ ai, mà trở thành chủ thể của quyền. Từ những ý kiến trên cùng với sự nghiên cứu các khái niệm quyền, quyền con ngƣời, khái niệm trẻ em thì có thể nói: Quyền trẻ em là những quyền con người được áp dụng dành riêng cho trẻ em, là những quyền tự nhiên mà trẻ em được hưởng, được làm, được tôn trọng và thực hiện nhằm đảm bảo sự sống còn, tham gia và phát triển toàn diện. Vì vậy, quyền trẻ em là những đặc quyền mà trẻ em được hưởng theo quy định của pháp luật.
Quyền trẻ em nằm trong hệ thống quyền con ngƣời. Nhƣng quyền của trẻ em có nét đặc thù so với quyền con ngƣời nói chung ở chỗ, do còn non nớt về thể chất và tinh thần, nên trẻ em đƣợc trao cho một số quyền và chƣa phải thực hiện một số quyền khác.