Tổng quan nghiên cứu

Đái tháo đường là một trong những bệnh lý không lây nhiễm phổ biến và có tốc độ gia tăng nhanh nhất trên phạm vi toàn cầu. Theo báo cáo từ Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế, năm 2019 toàn thế giới có khoảng 463 triệu người trong độ tuổi từ 20 đến 79 mắc bệnh và ước tính con số này sẽ chạm mốc 700 triệu người vào năm 2045, tương ứng mức tăng 51%. Chi phí y tế trực tiếp dành cho việc kiểm soát đái tháo đường năm 2019 đã lên tới 760 tỷ USD, chiếm khoảng 10% tổng chi tiêu y tế toàn cầu. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc đái tháo đường ở người trưởng thành đạt 5,42%, nhưng có tới 63,6% đến 68,9% người mắc bệnh trong cộng đồng chưa được chẩn đoán và chỉ có 28,9% bệnh nhân được quản lý thường xuyên tại các cơ sở y tế.

Là bệnh mạn tính phức tạp với nguy cơ tổn thương đa cơ quan, việc kiểm soát đường huyết phụ thuộc mật thiết vào mức độ tuân thủ phác đồ dùng thuốc. Chi phí điều trị trực tiếp phát sinh do việc không tuân thủ dùng thuốc ước tính cao gấp 3 đến 4 lần so với chi phí duy trì kiểm soát bệnh ổn định. Bệnh viện Đại học Y Hà Nội là cơ sở y tế tự chủ tài chính hoàn toàn với quy mô 550 giường bệnh, tiếp nhận tới 861.916 lượt khám ngoại trú vào năm 2019, trong đó phần lớn là người bệnh khám dịch vụ tự chi trả chi phí thuốc.

Nghiên cứu được triển khai từ ngày 05/08/2021 đến ngày 16/11/2021 nhằm đánh giá thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc không tuân thủ ở người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú dịch vụ. Đề tài cung cấp cơ sở thực tiễn vững chắc giúp nhà quản lý tối ưu hóa công tác dược lâm sàng tại nhà thuốc bệnh viện, cải thiện chỉ số gắn kết điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng khung lý thuyết về hành vi sức khỏe và hướng dẫn quản lý bệnh mạn tính của Tổ chức Y tế Thế giới. Khái niệm tuân thủ sử dụng thuốc được định nghĩa là mức độ trùng khớp giữa hành vi dùng thuốc thực tế của người bệnh với chỉ dẫn chuyên môn của nhân viên y tế về thời gian, liều lượng và tần suất. Để đo lường mức độ này, nghiên cứu tích hợp hai khung công cụ chuẩn hóa quốc tế:

Thang đo tuân thủ sử dụng thuốc Morisky 8 mục (MMAS-8): Đây là công cụ tự báo cáo có độ giá trị cao với hệ số nhất quán nội tại Cronbach's alpha đạt 0,83, vượt trội so với thang đo 4 mục (MAQ-4 với hệ số 0,61). Thang đo bao gồm 7 câu hỏi nhị phân dạng Có/Không và 1 câu hỏi thang đo Likert 5 mức độ, phản ánh toàn diện các rào cản hành vi vô ý (hay quên) lẫn cố ý (tự ngưng thuốc khi thấy khỏe hoặc e ngại tác dụng phụ). Điểm số tổng hợp được phân định rõ ràng với điểm cắt chuẩn: đạt từ 6 đến 8 điểm là tuân thủ, dưới 6 điểm là không tuân thủ.

Bộ công cụ đánh giá kiến thức về thuốc: Xây dựng dựa trên tài liệu chuẩn của Hội đồng Quốc gia về Giáo dục và Thông tin Người bệnh Hoa Kỳ kết hợp nghiên cứu của tác giả Mary Lynn McPherson. Khung đánh giá tập trung vào 5 miền tri thức cốt lõi: nhận diện tên thuốc, hiểu cơ chế tác dụng, nắm vững cách dùng cùng thời điểm liên quan bữa ăn, nhận biết tác dụng phụ hạ đường huyết và kỹ năng xử trí đúng khi quên liều với thang điểm tối đa là 8 điểm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang, kết hợp hồi cứu dữ liệu từ hệ thống quản lý thông tin bệnh viện (HIS) và phỏng vấn cấu trúc qua điện thoại thông qua biểu mẫu trực tuyến Google Forms.

Cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95% (Z = 1,96), sai số cho phép d = 0,05 và tỷ lệ không tuân thủ ước tính p = 20% rút ra từ nghiên cứu thử nghiệm tiền khả thi. Cỡ mẫu tối thiểu cần thiết được xác định là 246 bệnh nhân. Đối với phân tích hồi quy đa biến chứa 36 biến số độc lập, yêu cầu cỡ mẫu tối thiểu là 180 đối tượng. Trong thực tế, nhóm nghiên cứu đã trích xuất dữ liệu của 689 người bệnh, liên hệ phỏng vấn thành công 473 trường hợp và thu thập đủ 251 bệnh nhân hoàn thiện toàn bộ thang đo MMAS-8, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn chọn mẫu (chẩn đoán đái tháo đường típ 2 từ 3 tháng trở lên, điều trị ngoại trú dịch vụ, có đơn mua tại nhà thuốc bệnh viện).

Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê R phiên bản 4.2. Thống kê mô tả biểu diễn biến liên tục qua giá trị trung bình kèm độ lệch chuẩn (SD) hoặc trung vị cùng khoảng tứ phân vị (IQR). Các biến định tính được so sánh qua kiểm định Chi-square hoặc Fisher's exact test; biến định lượng dùng t-test hoặc Mann-Whitney test. Mô hình hồi quy logistic đa biến từng bước (Stepwise) được lựa chọn nhằm kiểm soát triệt để các yếu tố gây nhiễu, ước tính tỷ số chênh Odds Ratio (OR) kèm khoảng tin cậy 95% CI với ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 251 người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú dịch vụ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội ghi nhận tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc chung đạt 79,3% (199 bệnh nhân), trong khi tỷ lệ không tuân thủ chiếm 20,7% (52 bệnh nhân). Điểm số tuân thủ trung bình theo thang đo MMAS-8 đạt 6,87 ± 1,41 điểm (trung vị 7,0 điểm, khoảng tứ phân vị dao động từ 6 đến 8 điểm), phản ánh mức độ tuân thủ ở ngưỡng trung bình khá.

Phân tích chi tiết từng khía cạnh hành vi trong thang đo MMAS-8 ghi nhận sự khác biệt rõ nét:

  • Rào cản hay quên: Tỷ lệ bệnh nhân thỉnh thoảng quên uống thuốc chiếm 31,1% toàn mẫu, trong đó nhóm không tuân thủ chiếm tỷ lệ áp đảo 82,7% so với 17,6% ở nhóm tuân thủ (p < 0,001).
  • Hành vi bỏ liều gần đây: Có 12,7% bệnh nhân có ít nhất một ngày không dùng thuốc trong vòng 2 tuần qua (nhóm không tuân thủ chiếm 32,7% so với 7,5% ở nhóm tuân thủ, p < 0,001). Tỷ lệ dùng đầy đủ thuốc vào ngày hôm trước đạt 95,6%.
  • Tự ý thay đổi phác đồ: Tỷ lệ người bệnh tự ý giảm liều hoặc ngừng thuốc mà không tham vấn bác sĩ là 13,5% (nhóm không tuân thủ chiếm tới 53,8% so với 3,0% ở nhóm tuân thủ, p < 0,001). Tỷ lệ tự ý ngừng thuốc khi nhận thấy đường huyết ổn định chiếm 13,5% (nhóm không tuân thủ là 48,1% so với 4,5%, p < 0,001).
  • Trở ngại tâm lý: Có 17,1% bệnh nhân cảm thấy phiền phức khi phải theo đuổi kế hoạch điều trị liên tục (nhóm không tuân thủ chiếm 50,0% so với 8,5% ở nhóm tuân thủ, p < 0,001).

Về quản lý bệnh, 84,0% bệnh nhân duy trì thói quen đi khám đều đặn. Nhóm tuân thủ có tỷ lệ tái khám định kỳ đạt 86,9%, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với mức 73,1% của nhóm không tuân thủ (p = 0,02). Ngoài ra, tỷ lệ có người thân trong gia đình mắc đái tháo đường ở nhóm không tuân thủ ghi nhận ở mức 46,0%, cao hơn so với 28,7% ở nhóm tuân thủ (p = 0,03). Tỷ lệ kiểm soát đường huyết đạt mục tiêu với chỉ số HbA1c dưới 7% ở nhóm tuân thủ đạt 49,7%, trong khi nhóm không tuân thủ chỉ đạt 34,9%.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc 79,3% trong nghiên cứu này cao hơn đáng kể khi đặt cạnh các kết quả khảo sát tại nhiều bệnh viện công lập khác trên toàn quốc như Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (60,8%), Bệnh viện Đại học Y Dược Huế (68,1%), Bệnh viện Nội tiết Trung ương (68,3%), Bệnh viện 354 (70,5%) và tương đương với Bệnh viện 198 (78,1%). Điều này phản ánh tính chất đặc thù của quần thể bệnh nhân khám dịch vụ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội: có mặt bằng học vấn cao (trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học chiếm 35,5%), 74,9% sinh sống tại khu vực đô thị Hà Nội và điều kiện kinh tế ổn định cho phép chi trả các phác đồ thuốc thế hệ mới.

Sự phân bố điểm số MMAS-8 được minh họa rõ nét qua biểu đồ hộp (Boxplot), thể hiện mức độ tập trung điểm số vững chắc ở khoảng phân vị 6-8 điểm. Các bảng thống kê đối chiếu đơn biến chỉ ra rằng sự gián đoạn trong việc dùng thuốc không chỉ xuất phát từ sự đãng trí ngẫu nhiên mà còn bắt nguồn sâu xa từ nhận thức sai lệch về bệnh mạn tính (tâm lý chủ quan khi triệu chứng thuyên giảm) và sự phức tạp của phác đồ đa thuốc. Việc kiểm soát HbA1c kém hơn ở nhóm không tuân thủ (65,1% có HbA1c từ 7% trở lên) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì nồng độ thuốc ổn định trong huyết tương để ngăn chặn biến chứng tim mạch và vi mạch.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thu thập được, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp can thiệp có tính khả thi cao nhằm nâng cao chất lượng quản lý sử dụng thuốc ngoại trú:

  • Thiết lập Bàn tư vấn Dược lâm sàng chuyên biệt tại Nhà thuốc Bệnh viện: Giao Khoa Dược chủ trì triển khai ngay trong quý 1 năm 2023, đặt mục tiêu tiếp cận và tư vấn trực tiếp cho 100% bệnh nhân đái tháo đường nhận đơn thuốc mới hoặc phác đồ phức tạp, nâng tỷ lệ bệnh nhân hiểu đúng cách xử trí khi quên liều từ mức dưới 50% hiện nay lên trên 85%.
  • Phát triển hệ thống tin nhắn tự động nhắc lịch uống thuốc và tái khám: Phòng Công nghệ Thông tin phối hợp cùng Khoa Khám bệnh xây dựng phần mềm gửi thông báo tự động qua ứng dụng di động trong lộ trình 6 tháng, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ bệnh nhân quên liều từ 31,1% xuống dưới 15% sau 1 năm vận hành.
  • Tổ chức các khóa tập huấn giáo dục sức khỏe và quản lý bệnh định kỳ: Phòng Kế hoạch Tổng hợp phối hợp các chuyên gia Nội tiết tổ chức câu lạc bộ người bệnh đái tháo đường hàng quý, phấn đấu gia tăng tỷ lệ người bệnh được đào tạo chính quy từ mức 7,3% hiện tại lên tối thiểu 40% trước quý 4 năm 2024.
  • Chuẩn hóa quy trình kê đơn và tăng cường dạng thuốc phối hợp cố định liều: Hội đồng Thuốc và Điều trị bệnh viện ban hành hướng dẫn ưu tiên sử dụng các dạng thuốc viên phối hợp hai hoạt chất (như Metformin kết hợp nhóm ức chế DPP-4 hoặc SGLT-2) nhằm tinh gọn số lượng viên thuốc mỗi ngày, hướng tới hạ tỷ lệ bệnh nhân cảm thấy phiền phức khi điều trị từ 17,1% xuống dưới 8%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Dược sĩ lâm sàng và Cán bộ Quản lý Dược bệnh viện: Tài liệu cung cấp quy trình chuẩn hóa về việc ứng dụng thang đo MMAS-8 để đánh giá hành vi dùng thuốc, đồng thời là cơ sở thực chứng để xây dựng danh mục thuốc và vận hành mô hình bàn tư vấn chuyên sâu tại nhà thuốc bệnh viện tự chủ.
  • Bác sĩ chuyên khoa Nội tiết và Bác sĩ Đa khoa khám ngoại trú: Giúp nhận diện nhanh các nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao bỏ thuốc (tiền sử gia đình, tái khám không đều đặn, rào cản tâm lý) nhằm kịp thời điều chỉnh phác đồ, cá thể hóa mục tiêu đường huyết và lồng ghép tư vấn hành vi trong mỗi lượt khám.
  • Ban Giám đốc và Lãnh đạo các bệnh viện tự chủ tài chính: Cung cấp góc nhìn quản trị toàn diện về mối quan hệ giữa chất lượng tư vấn thuốc với mức độ hài lòng và tỷ lệ gắn bó của nhóm khách hàng khám dịch vụ ngoại trú, giúp hoạch định chiến lược gia tăng giá trị dịch vụ y tế.
  • Học viên sau đại học và Nghiên cứu sinh ngành Dược học/Y tế Công cộng: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu kết hợp dữ liệu bệnh án điện tử với phỏng vấn từ xa, kỹ thuật xử lý dữ liệu và mô hình hóa hồi quy logistic đa biến trên phần mềm R.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc của bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đạt bao nhiêu phần trăm? Nghiên cứu ghi nhận 79,3% người bệnh tuân thủ tốt phác đồ điều trị theo thang đo MMAS-8 với điểm số trung bình đạt 6,87 ± 1,41 điểm. Kết quả này phản ánh chất lượng quản lý điều trị tích cực của nhóm bệnh nhân ngoại trú dịch vụ, cao hơn so với mức trung bình 60,8% - 70,5% tại nhiều bệnh viện công lập khác.

Hành vi không tuân thủ nào diễn ra phổ biến nhất ở người bệnh đái tháo đường? Hành vi thỉnh thoảng quên uống thuốc là rào cản lớn nhất, chiếm 31,1% trên toàn bộ mẫu nghiên cứu và lên tới 82,7% ở nhóm không tuân thủ (p < 0,001). Ngoài ra, có 17,1% bệnh nhân cảm thấy phiền toái khi dùng thuốc liên tục và 13,5% tự ý ngừng thuốc khi nhận thấy đường huyết đã tạm ổn.

Tại sao thang đo MMAS-8 lại được ưu tiên lựa chọn thay vì các công cụ khác? Thang đo Morisky 8 mục (MMAS-8) sở hữu độ tin cậy vượt trội với hệ số Cronbach's alpha đạt 0,83 (so với 0,61 của thang MAQ-4). Công cụ này gồm 8 câu hỏi súc tích, dễ cho điểm, hạn chế sai số trả lời theo quán tính và đánh giá chuẩn xác cả hành vi quên thuốc lẫn hành vi tự ý bỏ liều.

Thói quen đi khám bệnh định kỳ ảnh hưởng như thế nào đến việc tuân thủ dùng thuốc? Thói quen đi khám bệnh đều đặn có mối tương quan thuận mang ý nghĩa thống kê với việc tuân thủ thuốc (p = 0,02). Cụ thể, tỷ lệ tái khám đúng hẹn ở nhóm tuân thủ đạt 86,9%, trong khi ở nhóm không tuân thủ chỉ đạt 73,1%, chứng minh việc gặp bác sĩ thường xuyên giúp duy trì động lực điều trị liên tục.

Khoa Dược bệnh viện có thể can thiệp bằng cách nào để cải thiện tỷ lệ tuân thủ? Khoa Dược giữ vai trò nòng cốt thông qua việc tổ chức bàn tư vấn dược lâm sàng tại nhà thuốc, giải thích cặn kẽ hướng dẫn xử trí khi quên liều, cảnh báo tác dụng phụ hạ đường huyết và tư vấn sử dụng các dụng cụ chia thuốc nhằm giảm thiểu tối đa hiện tượng quên thuốc của bệnh nhân.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định chính xác tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú dịch vụ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đạt 79,3% với điểm trung bình MMAS-8 là 6,87 ± 1,41 điểm.
  • Các nguyên nhân chính dẫn đến không tuân thủ bao gồm hiện tượng hay quên thuốc (31,1%), tự ý ngừng thuốc khi thấy đường huyết ổn định (13,5%) và tâm lý e ngại phác đồ điều trị phức tạp (17,1%).
  • Việc duy trì tái khám định kỳ thường xuyên (p = 0,02) là yếu tố bảo vệ vững chắc giúp nâng cao mức độ gắn kết với phác đồ thuốc dài hạn của người bệnh.
  • Nghiên cứu đóng góp bằng chứng khoa học mới mẻ về hành vi sử dụng thuốc của nhóm đối tượng khám dịch vụ tại các cơ sở y tế tự chủ tài chính hoàn toàn tại Việt Nam.
  • Thiết lập bàn tư vấn dược lâm sàng tại nhà thuốc bệnh viện và ứng dụng công nghệ nhắc lịch tự động là hai giải pháp then chốt cần được đẩy mạnh trong giai đoạn 2023 - 2024.

Các cơ sở y tế, bác sĩ chuyên khoa và dược sĩ lâm sàng hãy chủ động tham khảo dữ liệu từ luận văn để tối ưu hóa quy trình tư vấn và cá thể hóa phác đồ điều trị cho người bệnh đái tháo đường ngay hôm nay.