CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Quan niệm về đơn vị ở Trong cấu trúc tổng thể của đô thị, đơn vị ở được coi là thành phần tế bào cơ sở.
Mỗi một tế bào cơ sở - đơn vị ở là một khu vực được đô thị hoá, có giới hạn không gian nhất định, có giới hạn dân số nhất định, được quy hoạch thiết kế tập trung xung quanh một trung tâm nhất định. Có thể coi mỗi đơn vị ở là một tổng thể các hoạt động cư trú, làm việc, nghỉ ngơi giải trí, mua sắm và các hoạt động thường ngày khác của con người. Trong quá trình phát triển đô thị, có rất nhiều mô hình và quan điểm được đề xuất về đơn vị ở. Các mô hình này, hoặc được áp dụng rộng rãi, hoặc được áp dụng tại một số địa điểm, hoặc mới chỉ là ý tưởng trên giấy, nhưng về cơ bản đều xuất phát từ mong muốn đáp ứng cao nhất chất lượng cuộc sống của con người.
Yếu tố mấu chốt dẫn đến sự thành công của các đơn vị ở hiện nay chính là nhờ phát huy được những giá trị mang tính cộng đồng, tính bản sắc, sự hoà nhập và sự cân bằng từ các mô hình cộng đồng dân cư truyền thống. Bước sang thế kỷ XXI, phát triển bền vững trở thành mục tiêu hàng đầu cho tất cả các quốc gia, các thành phố, các đơn vị ở và mọi người dân. Đơn vị ở của thế kỷ XXI không phải chỉ phát triển trên cơ sở các giá trị truyền thống, mà còn phải phát triển trên cơ sở các giá trị của bền vững. Đây là một quá trình phát triển đồng bộ nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau trong đơn vị ở như quy hoạch, thiết kế, kinh tế, xã hội, môi trường.
theo một khuôn khổ và định hướng thống nhất chung về bền vững. Khái niệm về đơn vị ở Một môi trường sống tốt không chỉ bởi ngôi nhà đẹp, tiện nghi mà còn quyết định bởi các dịch vụ hỗ trợ cuộc sống (dịch vụ giáo dục, văn hóa xã hội, nghỉ ngơi giải trí, mua sắm…), cũng như việc tổ chức chúng trong một tổng thể hữu cơ thống nhất, có không gian cảnh quan hấp dẫn, đảm bảo các yêu cầu về kinh tế, xã hội, sinh thái tự nhiên và nhân văn. Đơn vị ở là một hình thức tổ chức nơi ở cho dân cư đô thị, đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc của đô thị (bên cạnh các khu trung tâm thành phố, khu công nghiệp,…). Dạng tổ chức đơn vị ở có nhiều ưu điểm bởi nó giải quyết được các vấn đề xã hội, không gian dựa trên những nguyên tắc, giải pháp rõ ràng trong tổ chức quy hoạch.
Quá trình phát triển các khu dân cư sẽ dần hình thành các đơn vị ở đáp ứng được các nhu cầu sống và sinh hoạt thiết yếu của dân cư ở khu vực đó. Đơn vị ở có thể được hiểu là một khu vực đô thị hóa có quy mô và ranh giới nhất định; là một tổng thể cân Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 bằng của các hoạt động trong đô thị như cư trú, làm việc, vui chơi, mua sắm tạo nên một khu vực đô thị có tính độc lập một cách tương đối trong mối quan hệ với các bộ phận khác của thành phố. Theo quy chuẩn xây dựng Việt Nam, đơn vị ở được khái niệm như sau: “ Đơn vị ở là một bộ phận chức năng cơ bản của đô thị, trong đó đảm bảo đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người dân như: ở, học tập, vui chơi giải trí, mua bán,.” Đơn vị ở tương đương tiểu khu trong các khái niệm trước đây và tương đương cấp phường đối với các đô thị hiện có (mặc dù không đồng nhất) khi xét về quy mô phục vụ nhu cầu ở và sinh hoạt hàng ngày của người dân đô thị. Trong các quy hoạch mới, đường giao thông chính của đô thị không được chia cắt đơn vị ở.
Các đặc điểm cơ bản của đơn vị ở - Đơn vị ở có giới hạn về quy mô dân số Mỗi đơn vị ở đều có một quy mô dân số nhất định, thường là từ 4000 đến 15000 người. Trên thực tế, đối với các đô thị có từ lâu đời (đô thị cần được cải tạo) thì quy mô dân số của các đơn vị ở có thể sai lệch đôi chút do tính phát triển tự do từ lâu.Vì thế nên người ta có thể chia một đơn vị ở thành nhiều đơn vị ở (nếu dân số của đơn vị ở đó quá lớn) hoặc là gộp một số đơn vị ở lại với nhau (nếu dân số của các đơn vị ở đó quá nhỏ). Khi quy hoạch các đơn vị ở mới thì nhà quy hoạch phải tuân thủ theo giới hạn quy mô này và thường lấy con số 7000 dân làm số chuẩn trung bình. - Đơn vị ở có giới hạn về quy mô diện tích đất đai: Giới hạn về quy mô diện tích đất đai của một đơn vị ở được xác định dựa trên: khoảng cách đi bộ tối đa lấy bằng 5 phút là tới các công trình phúc lợi và dịch vụ công cộng (tương đương khoảng cách vật lý là 200m - 350m).
Nếu các công trình phúc lợi này đặt tại trung tâm đơn vị ở thì giới hạn quy mô diện tích của đơn vị ở sẽ là một hình tròn có bán kính 200 - 350m hoặc hình vuông có chiều dài cạnh từ 400 -700m. Như vậy, giới hạn về diện tích giúp cho mọi người trong đơn vị ở có thể tiếp cận đến các công trình công cộng, các dịch vụ cần thiết hàng ngày một cách nhanh chóng, thuận tiện mà không nhất thiết phải sử dụng bất cứ một phương tiện giao thông cá nhân nào. - Đơn vị ở là một tổng thể cân bằng các hoạt động xã hội: cư trú, mua sắm, làm việc,. Chất lượng môi trường sống không chỉ do điều kiện nhà ở quyết định mà còn được quyết định bởi sự hiện diện các chức năng phụ trợ cho cuộc sống như: mua sắm, nghỉ ngơi, sinh hoạt văn hóa,.Trong đơn vị ở có tất cả các hoạt động trên và có các công trình phục vụ các hoạt động trên.
Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 - Đơn vị ở có ranh giới và có một trung tâm Ranh giới của đơn vị ở có thể là ranh giới tự nhiên như rừng, đồng ruộng, sông, kênh,.hay ranh giới nhân tạo như: đường giao thông chính, đường ray tàu hỏa. Trung tâm là một thành phần thiết yếu trong đơn vị ở. Trung tâm đơn vị ở là một khu đất công cộng - lý tưởng nhất là đặt tại trung tâm địa lý của đơn vị ở hoặc sát bờ sông, bờ biển (đối với các đô thị ven sông, ven biển). Hạt nhân của không gian trung tâm có thể là một quảng trường, một ngã tư giao thông chính,.Thông thường các công trình như trụ sở ủy ban, trạm y tế,.được bố trí ở trung tâm đơn vị ở.
- Đơn vị ở có hệ thống giao thông chỉ phục vụ nội bộ, hạn chế đến mức tối thiểu đường giao thông cấp khu vực trở lên xuyên qua Điều này đặc biệt quan trọng để đảm bảo an toàn về mặt giao thông trong đơn vị ở. Chính vì vậy, phải hạn chế đến mức tối đa những tuyến đường có mật độ xe cộ lớn xuyên qua đơn vị ở. Lưu ý rằng đối với các đơn vị ở có từ lâu đời thì có thể có đường giao thông cấp khu vực xuyên qua nhưng các quy hoạch các đơn vị ở mới thì không được phép để điều đó xảy ra. - Đơn vị ở phải được liên kết với các yếu tố bên ngoài về cả giao thông lẫn cơ sở hạ tầng Đơn vị ở không thể trở thành một khu vực sống lý tưởng nếu nó không được kết nối với các khu chức năng khác trong đô thị và các khu vực lân cận khác.
Đơn vị ở phải được kết nối với bên ngoài về giao thông, hạ tầng kỹ thuật. Bên cạnh đó phải có sự liên kết làm sao để khoảng cách từ đơn vị ở đến các công trình như bệnh viện, trường học,.là nhỏ nhất. Phân loại đơn vị ở Đơn vị ở được phân ra thành các loại sau: - Đơn vị ở láng giềng: là đơn vị nhỏ nhất, tương đương với một tổ dân phố hiện nay ở đô thị Việt Nam, nó không có giới hạn quá chặt chẽ về quy mô dân số. Quy mô diện tích của đơn vị ở láng giềng khoảng từ 3 đến 4 ha.
Đất đai của đơn vị ở láng giềng hiện nay chủ yếu là đất xây dựng nhà ở các loại. Sở dĩ nó có tên là đơn vị ở láng giềng vì trong đơn vị ở này mối quan hệ xã hội chủ yếu mang tính láng giềng cùng xóm, cùng ngõ, quen biết nhau, quan tâm đến nhau, cùng chung mối quan tâm hàng ngày trong sinh hoạt, giao tiếp,. - Đơn vị ở cấp phường: là đơn vị cơ sở trong cơ cấu quy hoạch khu dân dụng, là đơn vị ở tương đương với một đơn vị hành chính cấp phường. Quy mô đất đai của đơn vị ở cấp phường khoảng 16 đến 25 ha, với số dân từ 4000 đến 10000 người (có thể lớn hơn tùy theo tầng cao xây dựng nhà ở).
Một đơn vị ở cấp phường bao gồm nhiều đơn Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 vị ở láng giềng. - Khu nhà ở: là một đơn vị quy hoạch cơ bản đối với các đô thị lớn và rất lớn, nó bao gồm một số phường có điều kiện địa lý tương tự nhau. Giới hạn của khu nhà ở là các đường giao thông chính của đô thị và các ranh giới tự nhiên khác như sông ngòi, hồ hoặc kênh mương trong đô thị. Khu nhà ở có quy mô diện tích trung bình từ 80 đến 100 ha.
Trong khu nhà ở, ngoài các công trình dịch vụ công cộng còn có thể bố trí trường trung học phổ thông, các cơ sở sản xuất nhỏ không độc hại, các xí nghiệp thủ công nghiệp. - Khu thành phố: Bao gồm một số khu nhà ở và các công trình văn hóa, hành chính, chính trị, các công trình dịch vụ công cộng cấp cao như: UBND cấp tỉnh, thành phố, rạp xiếc cấp tỉnh, cấp trung ương, nhà văn hóa trung tâm tỉnh, bưu điện tỉnh, trường đại học., nó được áp dụng cho các thành phố loại I và loại đặc biệt, có quy mô tương đương cấp quận. Khu thành phố có quy mô diện tích trung bình từ 300 đến 500 ha.