CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC - PHƯƠNG PHAP ĐÁNH GIA 'TÀI NGUYÊN DU LICH HUYỆN CÔN ĐẢO LI. Du lịch: Khái niệm Du lịch có rất nhiéu cách hiểu khác nhau và còn không ít những ý kiến trái ngược nhau. O Anh Du lịch được gọi là “to tour" nghĩa là đi dã ngoại. O Pháp cũng gọi là “Tour” nghĩa là dạo chơi, leo núi, vân động ngoài trời.
Tất cả déu bắt đầu từ tiếng Latinh “Tur - nus”, tiếng Hy lap *Tomos” với cùng một nghĩa là đi chơi, di dã ngoại. Eguger Freuler trong cuốn Hand buch der schweic - rischen. Volkswin chaff xuất bản năm 1905 viết: “Du lịch với ý nghĩa hiện đại của nó là một hiện tượng thời đại của chúng ta, dựa trên cơ sở tăng nhu cầu phục hồi sức khỏe và sự thay đổi môi trường xung quanh, dựa vào sự phát triển các tình cảm đối với các vẻ đẹp của thiên nhiên”. Giáo sư Bỉ - Edmond picara cho rằng: “Du lich là tổng hợp các tổ chức và các chức năng của nó không chỉ vé phương điện khách vãng lai, cái chính là về phương diện giá trị mà khách du lịch chỉ ra và của khách nước ngoài đến với một ví tiền day, tiêu dùng trực tiếp (trong khách san) và gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thỏa mãn nhu câu hiểu biết hoặc giải trí”.
Đến đầu thế ky XX thì nhiều nước Châu Au cho rằng “Du lịch là tổng thể các hoạt động của con người đưa vào hoạt động nhằm thực hiện những chuyến đi thoải mái. O Việt Nam khái niệm Du lịch cũng đã có từ lâu nhưng gắn liển với các chuyến đi kinh lý, tham quan, van cảnh, thăm viếng. của các nho sĩ, các tầng LE Thi Let SUTH: = lớp vua chúa quan lại. các nhà truyền giáo, các ting lớp dân cư có mức sống khá giả.
Tất cả những chuyến đi déu ghi vào sổ sách như: “Bach Dang giang phú”, "Thượng kinh ký sự”. Theo nhà sử học Trần Vương thì "Du lịch” là từ chép. Du là đi chơi, lịch là lịch lãm từng trải, hiểu biết du lịch biểu thị việc đi chơi của du khách nhằm tăng thêm hiểu biết: “Đi một ngày dang, học một sàng khôn”. Cùng với thời gian và không gian, khái niệm “Du lịch” không ngừng hoàn chỉnh bao gồm các nội dung sau: - Du lịch là sư di chuyển và lưu trú tạm thời ở ngoài nơi thường trú của con người nhằm thỏa man các nhu cầu: nghỉ dưỡng, chữa bệnh, văn hóa nghệ thuật, giao lưu tình cảm, lịch sử.
- Bên cạnh việc dat được các mục đích du lịch là việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ. - Là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và hoạt động kinh tế có liên quan tới khách du lịch. Tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch là tổng hợp thể tự nhiên và nhân văn, các thành phần của chúng được khai thác phục vụ cho mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển du lịch, tạo ra khả năng đón khách và góp phan tạo nên sản phẩm du lịch.
e Tài nguyên du lịch tự nhiên là nguồn tài nguyên có sẵn trong thiên nhiên. Các điểu kiện tự nhiên bao gồm địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật. Địa hình tạo nên các cảnh quan thiên nhiên (bãi biển, thung lũng, đồi “* ) SOT: L Thi Legit 4 Khda lugu tất nghiệp GVHD: DIS. Dhgqm Ruan Hou Khí hậu đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch.
O những vùng khí hậu ôn hòa mát mẻ dé dàng thu hút khánh du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, thể thao, ngoài ra những vùng khí hậu tốt sẽ là điểu kiện để phát triển nhiều loại hình du lịch khác nhau. Nguồn nước (đặc biệt nước ngọt, nước khoáng) là tiểm năng du lịch có sức thuyết phục lớn trong việc khai thác và kinh doanh du lịch. Nguồn động thực vật có ý nghĩa thẩm mỹ và tham quan ngoài ra còn phát triển các loại hình du lịch nghiên cứu khoa học, săn bắn. ® Tài nguyên nhân văn: là những công trình kiến trúc, di tích lịch sử do con người tao nên.
Nguồn tài nguyên này phát triển du lịch văn hóa - lịch sử - giúp du khách tìm hiểu về lịch sử văn hóa của mỗi quốc gia. Sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch được hiểu là một cảnh quan, một di tích mà người làm du lịch có thể bán ra được. Sản phẩm du lịch là tổng thể các dịch vụ, các tiện nghỉ cùng các hàng hóa được kết hợp một cách hài hòa ở một vùng du lịch, nhờ vậy nâng cao được giá trị của các tài nguyên thiên nhiên, văn hóa - lịch sử ở vùng đó khi phục vụ khách du lịch. Có 3 mức nhận thức về sản phẩm du lịch: - Sản phẩm trung tâm (động lực của không gian du lịch ) được xác định theo yêu cẩu chủ yếu của khách du lịch (nghÏ ngơi trên bãi biển, du ngoạn trên biển svy)ì Sản phẩm chuyên dùng: xác định theo tính chất hoạt động (khách sạn, phục vụ nghỉ ngơi.
SOTH: L8 Thi Let l§ Khda luậu tất sạiiệp GVHD: DIS. Dhugm 2uâm Fu - San phẩm mở rộng: là những hình ảnh mà khách du lịch nhận thấy ở sản phẩm (kiểu kiến trúc, lối sống. Có nhiều yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch. Đó là các thành phần cơ bản của sản phẩm (vị trí địa lý, điểu kiện khí hậu, di tích lịch sử văn hóa), ngoại cảnh trực tiếp (khung cảnh gần khu nghỉ ngơi), cư dân địa phương (yếu tế chủ yếu của khách sạn) các thiết bị giải trí, dịch vụ.
Loại hình du lịch: Hoạt động du lịch có tính phong phú và đa dang vé loại hình phụ thuộc vào các nhân tố khác nhau, dựa vào đặc điểm, vị trí, phương tiện và mục đích có thể chia thành các loại hình riêng biệt. Có rất nhiều loại hình du lịch, tuy nhiên để tài chỉ giới hạn trong huyện Đảo với những tiểm năng đặc trưng, nên ở đây tôi giới thiệu các loại hình du lịch có thể thể hiện được ở đây. Theo nhu cầu của khách: ® Du lịch nghỉ ngơi giải trí: Nay sinh do nhu cầu cân phải nghỉ ngơi để phục hồi thể lực và tính thắn cho con người. Đây là loại hình du lịch có tác dụng giải trí làm cho cuộc sống thêm đa dang và tạo tinh thần lạc quan để lại tiếp xúc với công việc.
e Du lịch thể thao: Xuất hiện do lòng say mê thể thao của con người. Du lịch thể thao chia thành hai loại: + Du lịch thé thao chủ đông: gồm chuyến du lịch và lưu trú để khách tham quan trực tiếp hoạt động thể thao như: câu cá, bóng đá, bóng chuyển, lướt ván. LE Tht Let SOUTH: wa Khda luậu tốt ugÍdệp GVHD: PIS. Pham Lule Wu + Du lich thể thao bị động: trong cuộc hành trình để xem các cuộc thi đấu, diéu hành, các cuộc vận hội.
+ Du lịch văn hóa: Nâng cao hiểu biết của mỗi du khách thông qua các tuyến du lịch lịch sử - văn hóa. Từ đó du khách có thể nghiên cứu, tìm hiểu vẻ lịch sử, chế độ xã hội. phong tục tập quấn của mỗi quốc gia. + Du lịch tôn giáo: Nhằm thỏa mãn nhu cẩu tín ngưỡng.
Có hai dang: đi thăm nhà thờ, đển chùa vào các ngày lễ và đi xưng tội. Theo phạm vi lãnh thé: + Du lịch trong nước: Người du lịch có thể đi từ tỉnh này sang tỉnh khác trong nước, chỉ bằng tiền nước mình. + Du lịch quốc tế: là chuyến đi từ nước nầy sang nước khác. Theo vị trí của các cơ sở du lịch: + Du lịch xe đạp: phát triển ở những nơi có địa hình bằng phẳng.
+ Du lịch tàu thủy: là tổ hợp đảm bảo với nhiều loại hình du lịch: nghỉ ngơi, giải trí, thể thao. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU LICH 11. Mục đích đánh giá: - Xác định khả năng thuận lợi (tốt, trung bình, kém ) của các loại tài nguyên du lịch đối với hoạt động du lịch. - Xác định khả năng khai thác loại hình du lịch, qui mô hoạt động (quốc tế, quốc gia, địa phương) nhằm xây dựng các tuyến - điểm du lịch.
i — LE Tj Lt SOTH: Khda luận tất nghi¢p GVHD: PIS. Pham Vain Wu 11. Chỉ tiêu đánh giá: Trên cơ sở thừa kế các nghiên cứu và đánh giá có từ trước đến nay của ngành và các nhà khoa học (Đăng Duy Lợi - 1992, Nguyễn Minh Tuệ - 1993, ‘Trin Văn Thắng - 1995 ) để tài xây dựng thang đánh giá theo 3 chỉ tiêu thu hút khách du lịch (tính hấp dẫn, tính an toàn, cơ sở hạ tầng, vật chất, kỹ thuật ) và 4 chỉ tiêu quản lý khai thác (sức chứa, tính thời vụ, tính liên kết, và tính bén vững) chỉ tiêu đánh giá không được để cập vì phí tham quan hiện nay chiếm một tỉ lệ rất thấp trong cơ cấu giá cả của sản phẩm du lịch (chủ yếu do giá vận chuyển và giá khách sạn chỉ phối). Các chỉ tiêu được đánh giá theo 4 bậc tương ứng với mức độ thuận lợi, áp dụng cho cả tài nguyên du lịch tự nhiên TNDLTN) và tài nguyên du lịch nhân văn (TNDLNYV).1, Tính hấp dẫn: - Đối với TNDLTN: tính hấp dẫn khách du lich là yếu tố tổng hợp và thường được xác định bằng vẻ đẹp của cảnh quan thiên nhiên, sự đa dạng của địa hình, sự độc đáo và đặc sắc của các hiện tượng và đi tích tự nhiên có qui mô về không gian của điểm tài nguyên.
+ Rất hấp dẫn: Có trên 5 phong cảnh đẹp; 3 hiện tượng di tích tự nhiên đặc sắc, đáp ứng cho 5 loại hình du lịch. + Khá hấp dẫn: Có từ 3 — 5 phong cảnh đẹp; | hiện tượng di tích tự nhiên đặc sắc, đáp ứng 3 — 5 loại hình du lịch. + Trung bình: Có từ | -2 phong cảnh đẹp; đáp ứng | -2 loại hình du lịch. Đối với TNDLNY: Tinh hấp dẫn khách du lịch là yếu tố có tính chất tổng hợp và được xác định bằng nét độc đáo về mỹ thuật, nghệ thuật và kiến trúc của công trình văn hóa và bể dày thời gian của di tích cổ đại, trung đại, hiện đại bởi qui mô vé không gian của điểm tài nguyên.
SOTH: Li Thi Loi is Khda luận tốt =ạiiệp GUE: DSS. HÀ CAN Mie + Rất hấp dẫn: Công trình văn hóa và đi tích lịch sử có tính nghệ thuật cao, tầm vóc quốc tế (được công nhận là di sdn văn hoá thế giới) bể dày lịch sử trên 150 năm. + Khá hấp dẫn: Có tính nghệ thuật cao, tim vóc quốc gia (được Bộ Van Hóa công nhân) bể dày lịch sử từ 100 — 150 năm.