PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong thời gian vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách pháp luật nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai trước kia thuộc quản lý của nông lâm trường như: Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 16/6/2003 và Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh; Nghị định số 118/2014/NĐ-CP 17/12/2014 về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp; Nghị quyết số 112/2015/NQ-QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh do các công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng và các tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng. Chính vì vậy, công tác quản lý sử dụng đất của nông lâm trường từng bước được củng cố, đến nay, nhiều địa phương trong cả nước cơ bản đã hoàn thành công tác rà soát, cắm mốc ranh giới giữa các công ty nông nghiệp, lâm nghiệp và hoàn thành về đo đạc lập bản đồ địa chính. Bên cạnh đó, nhiều địa phương đã sắp xếp lại tổ chức, chuyển đổi các nông trường, lâm trường để làm cơ sở xử lý các yếu kém, vướng mắc.
Tại một số địa phương, các nông trường, lâm trường cũng đã xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh, phương án sử dụng đất. Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường, kết quả sắp xếp, đổi mới các nông trường, lâm trường thực hiện vẫn chậm, hiệu quả còn thấp. Phần lớn các địa phương mới chỉ xây dựng được phương án sử dụng đất, còn nhiều nơi chưa phê duyệt phương án sử dụng quỹ đất bàn giao về địa phương. Tiến độ đăng ký, cấp giấy chứng nhận, lập hồ sơ địa chính ở các địa phương còn chậm; chất lượng kiểm tra, nghiệm thu của chủ đầu tư và các đơn vị thi công có nơi chưa đầy đủ, mang nặng tính hình thức.
Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành pháp luật về đất đai đối với đất đai có nguồn gốc từ các nông trường, lâm trường chưa được thực hiện thường xuyên, triệt để; chưa phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm trong quản lý, sử dụng đất… Chính vì vậy, ngày 07/01/2020 Chính Phủ đã ban hành Quyết định số 32/QĐ-TTg Phê duyệt “Đề án tăng cường quản lý đối với đất đai có nguồn gốc h 2 từ các nông, lâm trường quốc doanh hiện do các công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp không thuộc diện sắp xếp lại theo Nghị định số 118/2014/NĐ-CP, ban quản lý rừng và các tổ chức sự nghiệp khác, hộ gia đình, cá nhân sử dụng. Huyện M’Drắk hiện có 4 đơn vị thuộc diện sắp xếp lại theo Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ, gồm 3 công ty nông nghiệp (Công ty TNHH MTV Cà phê 715A, Công ty TNHH MTV Cà phê 715B, Công ty TNHH MTV Cà phê 715C), 01 công ty lâm nghiệp (Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp M’Drắk). Hiện nay, 04/04 đơn vị trên đang lập phương án sử dụng đất; theo đó có phần diện tích của công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp không sử dụng, đã giao lại (đã ban hành quyết định thu hồi) hoặc dự kiến giao lại địa phương quản lý (chưa ban hành quyết định thu hồi), sử dụng để phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Tuy nhiên, hiện nay công tác quản lý quỹ đất này vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập như: Hồ sơ địa chính thiếu chính xác, không được chỉnh lý kịp thời, không phản ánh đúng thực tế quản lý sử dụng đất.
Vẫn còn diện tích đất giao lại cho địa phương chưa đo đạc lập bản đồ địa chính, đến nay phương án quản lý sử dụng quỹ đất này vẫn chưa được phê duyệt; chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng cơ sở dữ liệu đối với đất đai có nguồn gốc từ các nông, lâm trường nên thiếu thông tin làm cơ sở xác định và thu nghĩa vụ tài chính của các đối tượng sử dụng đất; tình trạng tranh chấp, lấn chiếm, vi phạm pháp luật về đất đai có nguồn gốc nông trường, lâm trường vẫn còn xảy ra và chưa được giải quyết triệt để… Từ những lý do trên tôi chọn nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đất có nguồn gốc từ nông lâm trường trên địa bàn huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk” là việc làm cần thiết. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá thực trạng quản lý đất nông nghiệp có nguồn gốc từ các nông lâm trường giao lại cho địa phương quản lý trên địa bàn huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk. - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất nông nghiệp có nguồn gốc từ các nông lâm trường giao lại cho địa phương quản lý trên địa bàn huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk. Ý nghĩa khoa học của đề tài Ý nghĩa khoa học: Đây sẽ là cơ sở lý luận và thực tiễn để tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai, sử dụng hiệu quả quỹ đất có nguồn gốc thu hồi từ các nông trường, công ty lâm nghiệp trên giao trả cho địa phương quản lý trên địa bàn huyện.
Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài góp phần quan trọng trong việc quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên đất đai khắc phục những bất cập tồn tại trong quản lý đất nông nghiệp do các nông lâm trường giao lại cho địa phương quản lý; giải quyết triệt để tình trạng lấn, chiếm, tranh chấp đất đai; từ đó góp phần nâng cao vai trò quản lý nhà nước về đất đai và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của huyện. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận của công tác quản lý, sử dụng đất đai do các nông, lâm trường giao lại cho địa phương 1. Vai trò của đất đai trong phát triển kinh tế - xã hội Khái niệm về đất đai: Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de Janerio, Brazil, 1993 nêu khái niệm về đất đai như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa.” Tại khoản 2 Điều 4 Thông tư 14/2012/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định kỹ thuật điều tra thoái hóa đất do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên có nêu “Đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế – xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người” (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012).
Điều này cho thấy, đất đai gắn liền với khí hậu, môi trường trên phạm vi toàn cầu cũng như từng vùng, từng miền lãnh thổ. Trải qua lịch sử hàng triệu năm của trái đất, khí hậu cũng trải qua nhiều biến động do những nguyên nhân tự nhiên hoặc do tác động của con người. Trong quá trình chinh phục và cải tạo thiên nhiên, con người ngày càng can thiệp vào quá trình biến đổi của tự nhiên. Biến đổi khí hậu có tác động mạnh mẽ đến các hệ sinh thái trên đất liền.
Đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi quá trình sản xuất và hoạt động của con người. Nói cách khác, không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính con người. Con người khai thác bề mặt đất đai để trồng trọt, chăn nuôi, tạo nên sản phẩm nuôi sống cả xã hội loài người. Khai thác bề mặt đất đai và cải tiến chất lượng đất đai để tạo ra khối lượng sản phẩm ngày càng nhiều hơn, thoả mãn nhu cầu lương thực, thực phẩm ngày càng tăng.
Trình độ khai thác h 5 đất đai gắn liền với sự tiến hoá của xã hội. Quá trình ấy làm cho con người ngày càng gắn chặt với đất đai hơn. Vai trò của đất đai đối với phát triển kinh tế - xã hội: Như chúng ta đã biết đất đai có nguồn gốc từ tự nhiên, theo thời gian con người đã và đang tác động vào đất đai, cải tạo đất đai và biến đất đai từ sản phẩm của tự nhiên lại mang trong mình sức lao động của con người, tức cũng là sản phẩm của của xã hội. Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất.
Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp” (dẫn theo Đỗ Thị Lan, 2007). Bởi vậy, nếu không có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay. Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài con người chiếm hữu đất đai biến đất đai từ một sản vật tự nhiên thành một tài sản của cộng đồng, của một quốc gia. Luật Đất đai năm 1993 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng.
Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay!” (Quốc hội, 1993). Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã quy định, đất đai là tài sản công, thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.