Đặt vấn đề Nông nghiệp là một bộ phận chủ yếu của nền kinh tế quốc dân, có vai trò và vị trí to lớn trong sự phát triển của đất nƣớc. Trong thời đại xu thế hội nhập là tất yếu nhƣ hiện nay sự cạnh tranh trong nội bộ ngành và với bên ngoài khá gay gắt. Để nền nông nghiệp Việt Nam ngày một phát triển, có khả năng cạnh tranh với hàng hóa của các nƣớc thì yêu cầu đặt ra là ngƣời dân phải có kiến thức về sản xuất, chăm sóc cây trồng, vật nuôi, nắm đƣợc yêu cầu và quy trình sản xuất đạt tiêu chuẩn, các thông tin thị trƣờng, v.Một trong những kênh thông tin giúp ngƣời dân có đƣợc những điều đó là hệ thống tổ chức khuyến nông. Công tác khuyến nông mang lại nhiều lợi ích thiết thực thấy rõ nhƣ: góp phần nâng cao nhận thức cho ngƣời nông dân về chủ trƣơng, chính sách pháp luật, kiến thức, kỹ năng về khoa học kỹ thuật, quản lý, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, nâng cao năng suất, chất lƣợng, hiệu quả cây trồng vật nuôi, phát triển theo hƣớng bền vững; góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn.
Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp có 80% dân số sống ở nông thôn với hơn 70% dân số sống bằng nghề nông. Nông nghiệp có vai trò to lớn góp phần vào công cuộc đổi mới và phát triển đất nƣớc hiện nay. Do đó nƣớc ta muốn phát triển nền kinh tế đất nƣớc thì cần phải quan tâm đến phát triển nông nghiệp nhiều hơn nữa. Nƣớc ta phát triển theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý nhà nƣớc trong nền kinh tế thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần.
Trong sản xuất nông nghiệp, hộ nông dân đƣợc coi nhƣ một chủ thể kinh tế độc lập, một cá thể của nền kinh tế đất nƣớc. Những năm gần đây nền kinh tế nƣớc ta nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng đã có những chuyển biến mạnh mẽ và thu đƣợc nhiều thành n 2 tựu, năng suất sản lƣợng ngày càng tăng, giống mới, cơ cấu cây trồng vật nuôi đã đƣợc thay đổi phù hợp với sự phát triển của đất nƣớc và điều kiện tự nhiên của từng vùng cụ thể, khối lƣợng sản phẩm tăng nhanh, các loại sản phẩm nhƣ: gạo, lạc, các loại rau quả có mặt trên thị trƣờng thế giới và khu vực ngày càng nhiều. Điều đặc biệt là từ một nƣớc hàng năm phải nhập khẩu lƣơng thực thì hiện nay không chỉ giải quyết vấn đề lƣơng thực mà còn vƣơn lên là nƣớc thứ 2 trên thế giới xuất khẩu gạo. Điều này đã chứng minh cho đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc là đúng đắn.
Để góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn cần phải kể đến phần đóng góp không nhỏ của tổ chức khuyến nông. Công tác khuyến nông với vai trò tích cực của mình ngày càng phát huy và mở rộng khắp các vùng trong cả nƣớc đồng thời đã củng cố và từng bƣớc cải tiến phù hợp với tình hình mới. Để thực hiện nhiệm vụ đó, ngày 02 tháng 03 năm 1993 chính phủ đã ban hành nghị định 13/CP về công tác khuyến nông và tổ chức hệ thống khuyến nông –khuyến lâm – khuyến ngƣ, nhằm giúp nông dân giải quyết vấn đề hạn chế nêu trên. Từ khi ra đời đến nay hệ thống khuyến nông từ Trung ƣơng đến các cơ sở đã đóng góp những hiệu quả thiết thực đối với nông dân, nông nghiệp nông thôn.
Tuy nhiên trong quá trình hình thành, tổ chức và thực hiện ở mọi vùng, mọi nơi còn có những mặt hạn chế cần đƣợc đánh giá và tìm giải pháp phát triển. Công tác khuyến nông mặc dù vẫn còn nhiều mặt tồn tại nhƣng cũng đã góp phần quan trọng vào việc khuyến khích nông dân áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất có hiệu quả tạo ra nhiều hàng hóa nông sản phẩm tăng thu nhập và mức sống cho ngƣời nông dân góp phần xóa đói giảm nghèo và khắc phục mặt trái của cơ chế thị trƣờng. n 3 Xuất phát từ quan điểm đó, với những kiến thức lý luận về kinh tế phát triển đã nhận thức đƣợc qua khóa học tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp cho công tác khuyến nông – khuyến lâm tại xã Thái Long –Thành phố Tuyên Quang – Tỉnh Tuyên Quang”. Mục đích của đề tài Nâng cao hiệu quả công tác KNKL tại xã Thái Long – thành phố Tuyên Quang –Tỉnh Tuyên Quang.
Mục tiêu của đề tài - Đánh giá đƣợc thực trạng công tác KNKL của xã Thái Long –Thành phố Tuyên Quang –Tỉnh Tuyên Quang. - Đề xuất đƣợc một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác KNKL tại xã Thái Long – Thành phố Tuyên Quang – Tỉnh Tuyên Quang.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học. - Củng cố kiến thức môn học, bổ sung kiến thức còn thiếu, áp dụng những kiến thức lý thuyết vào trong thực tiễn. - Rèn luyên các kỹ năng thu tập số liệu, viết báo cáo bổ sung tài liệu tham khảo về công tác KNKL cho xã Thái Long.
- Giúp cho sinh viên làm quen, tìm hiểu kiến thức điều tra ngoài thực tế làm tiền đề cho công việc sau này. Ý nghĩa thực tiến. - Từ những kết quả nghiên cứu làm cơ sở cho các nhà quản lý, các cán bộ khuyến nông có những căn cứ để lựa chọn phƣơng pháp KNKL phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động công tác KNKL đồng thời cải thiện đời sống nhân dân trong xã. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2. Khái niệm về KNKL 2.1 Khái niệm khuyến nông Khái niệm khuyến nông theo nghĩa hẹp: Khuyến nông là sử dụng các cơ quan nông – lâm – ngƣ, các trung tâm khoa học nông nghiệp – lâm nghiệp đƣợc phổ biến mở rộng các kết quả nghiên cứu tới nông dân bằng các phƣơng pháp thích hợp để họ có thể áp dụng nhằm thu đƣợc nhiều nông sản hơn. Với khái niệm này thì khuyến nông chỉ đơn giản là chuyển giao khoa học kỹ thuật. Khái niệm theo nghĩa rộng: Khuyến nông là ngoài việc hƣớng dẫn cho nông dân những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới còn phải giúp đỡ họ liên kết lại với nhau để chống lại thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, hiểu biết các chính sách pháp luật của nhà nƣớc, giúp ngƣời nông dân phát triển khả năng tự quản lý điều hành các tổ chức, các hoạt động xã hội nhƣ thế nào cho ngày càng tốt hơn.
Khái niệm tổng quát: Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân, đồng thời giúp họ hiểu đƣợc những chủ trƣơng, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật kinh nghiệm về quản lý kinh tế, những thông tin thị trƣờng, để họ tự giải quyết đƣợc những vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới.2 Khái niệm KNKL Có rất nhiều tác giả đƣa ra khái niệm về KNKL Theo A.Van Den và H.S Hawkins, khuyến nông, 1988 thì: “KNKL là một sự giao tiếp thông tin tỉnh táo nhằm giúp nông dân hình thành các ý kiến hợp lí và tạo ra các quyết định đúng đắn“. n 5 - Kích thích cƣ dân nông thôn hành động theo sáng kiến của họ. Phát triển các hình thức liên kết hợp tác của nông dân nhằm mục tiêu phát triển nông lâm nghiệp và nông thôn. - Đào tạo, tập huấn nông dân: tổ chức các khóa tập huấn, xây dựng mô hình thăm quan, hội thảo đầu bờ cho nông dân.
- Thúc đẩy, tạo điều kiện cho ngƣời nông dân để sản xuất các ý tƣởng, sáng kiến và thực hiện thành công các ý tƣởng sáng kiến của họ. - Trao đổi truyền bá thông tin: bao gồm xử lý, lựa chọn các thông tin cần thiết, phù hợp với các nguồn khác nhau để phổ biến cho nông dân giúp họ cùng nhau chia sẻ và học tập. - Giúp nông dân giải quyết các vấn đề khó khăn tại địa phƣơng. - Giám sát và đánh giá các hoạt động khuyến nông.
- Phối hợp các nông dân tổ chức các thử nghiệm phát triển kỹ thuật mới, hoặc thử nghiệm kiểm tra tính phù hợp của kết quả nghiên cứu trên thị trƣờng, từ đó làm cơ sở cho việc khuyến khích lan rộng. - Hỗ trợ nông dân về kinh nghiệm quản lý kinh tế hộ gia đình, phát triển sản xuất quy mô trang trại. - Tìm hiểu và cung cấp cho nông dân về các thông tin về giá cả, thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm. - Trợ giúp nông dân cách thức bảo quản, chế biến nông lâm sản theo quy mô hộ gia đình.
Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2. Tổng quan về hoạt động khuyến nông trên thế giới Không chỉ riêng ở nƣớc ta mới có những hoạt động khuyến nông, mà trên thế giới tổ chức khuyến nông đã có từ nhiều năm trƣớc đây. Ngay từ thời kỳ n 6 phục hƣng (thế kỷ thứ XIV) khuyến nông đã bắt đầu đƣợc hình thành khi mà khoa học bắt đầu ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất.
· Khởi đầu là thầy thuốc và nhà giáo ngƣời Pháp Rabelaif (1493 – 1553) ông chủ trƣơng nguyên tắc gắn liền nhà trƣờng với thực tiễn. · Năm 1661 giáo sƣ ngƣời Anh là Harlib đã viết cuốn sách về “sự tiến bộ của nghề nông‟‟. · Năm 1923 , tổ chức hiệp hội “tăng cƣờng hiểu biết về nông nghiệp đầu tiên đƣợc thành lập ở Pháp, năm 1764 ở Đức, năm 1765 ở Nga, những hiệp hội này đăt nền móng cho việc thực hành và phát triển khuyến nông sau này. · Năm 1777 giáo sƣ ngƣời Thụy Sỹ là Heilrich Pastalozzi thấy rằng muốn mở mang nhanh chóng nền nông nghiệp giúp ngƣời nông dân nghèo cải thiện đƣợc cuộc sống trở nên giàu có thì phải đào tạo đƣợc chính con em họ có trình độ học vấn và nắm bắt đƣợc trình độ kỹ thuật, biết làm một số việc nhƣ quay sợi, dệt vải, cày bừa,.
· Ở Mỹ năm 1907 có 42 trƣờng đại học ở 39 bang đã tham gia vào hoạt động khuyến nông. Đến năm 1914 số ngƣời theo học khuyến nông và hoạt động khuyến nông đã lên tới 3. Ở các khu vực châu Á thì tổ chức khuyến nông đƣợc hình thành muộn hơn nhƣ: Nhật Bản năm 1948, Indonesia năm 1955, Ấn Độ năm 1960, Thái Lan năm 1967 .