Chương 1: Mở Dau. Chương này nên sự cần thiết của van dé nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các giả thiết nghiên cứu và giới hạn về không gian, thời gian của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Trong chương này, đầu tiên, tác giả trình bày những kết quả nghiên cứu trước đây và thông tin từ các phương tiện thông tin dai chúng về van đề nghiên cứu dé từ đó nêu lên được nét mới của dé tài này.
Sau đó, dé tài trình bay các cơ sé lý thuyết được áp dung trong dé tài, các phương pháp chon mẫu, thu thập và xử lý số liệu. Chương: Tổng quan. Chương này trình bày điều kiện tự nhiên, kinh té, xã hội của địa bàn nghiên cứu (huyện Hóc Môn) và các thông tin cơ bản về sản xuất, tiêu thụ RAT ở thành phố Hồ Chí Minh và huyện Hóc Môn. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Trong chương này, tác giả mô tả đặc điểm của các nông hộ sản xuất RAT, kết quả và hiệu quả sản xuất của một số loại RAT điển hình. Trọng tâm của chương này chính là liệt kê các trở ngại mà hộ sản xuất RAT đang gặp phải và tìm ra trở ngại quan trọng nhất. Phân tích tác động của trở ngại chính được chọn và xây dựng giải pháp để khắc phục trở ngại đó. Chương 5: Kết luận, kiến nghị.
Chương này nên các kết luận về tình hình chung sản xuất và tiêu thụ rau an toàn, trở ngại quan trọng nhất của các nông hộ, ảnh hướng của nó và giải pháp khắc phục. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Kết quả nghiên cứu của các đề tài trước về vấn đề rau an toàn Trồng rau an toàn trong nhà lưới dùng nhiều phân chuồng hơn, ngoài nhà lưới dùng nhiều phân hữu cơ hơn. Sản xuất ngoài trời có chỉ phí sản xuất cao hơn. Trồng trong nhà lưới thì cải có thu nhập cao hon, còn rau muống và rau dén thi trồng bên ngoài có thu nhập cao hơn (Vĩnh, 2004).
Kết quả và hiệu qua sản xuất rau an toàn cao hơn rau thông thường do các chi phí về phân bón, thuốt Bảo vệ thực vật của rau an toàn ít hơn (Mai, 2005). Các lý do dẫn đến sự chậm trễ của thị trường rau an toàn là hiểu biết của người tiêu đùng còn hạn chế, động cơ và thói quen sử dụng rau. Nhu cầu san phẩm rau an toàn ở thành phố rất lớn nhưng nguồn cung chưa đáp ứng được. Kênh phân phối của rau an toàn còn chưa rộng rãi làm hạn chế tiêu thụ rau an toàn của người tiêu dùng (Tường, 2003).2 Thông tin về rau an toàn từ các phương tiện truyền thông đại chúng Trồng rau trong lồng nhà lưới có thể đạt 12 vụ trong năm và năng suất cũng vượt lên gấp 3, 4 lần.
Chẳng những thé, công cán, chi phi cho lứa rau bên ngoài nhà lưới cũng cao hơn rất nhiều lần do trời nắng, phải tưới nước nhiều hơn. Nếu đầu tư nhà lưới sẽ phải trang bị cả hệ thống vòi tưới thì sẽ giải quyết được khâu nước- yếu tố quyết định năng suất (Dat, 2004). Mô hình nhà lưới hiện nay còn quá đơn điệu, nguyên tắc cứng nhắc nên không áp dụng rộng rãi cho các loại đất đai thổ nhưỡng khác nhau của các nơi. Giá thành một nhà lưới khép kin còn quá cao, từ 10 đến 15 triệu đồng cho 1.000mỶ, số tiền này với người trồng rau hiện nay quá cao.
Mặt khác, giá rau trong và ngoài nhà lưới vẫn bị đánh đồng với nhau cũng là nguyên nhân tác động không nhỏ làm cho cánh nông dân chưa mặn mà với nhà lưới (Đạt, 2004). Diện tích rau an toàn tại vùng quy hoạch ở các xã Tân Quy Tây, Tân Phú Trung, Tân Thới Nhì, Xuân Thới Thượng không phát triển nhanh như dự kiến. Trong khi các huyện ngoại thành còn hơn 10.000 ha đất trồng rau thì một số đơn vị kinh doanh vẫn phải mua thêm ở các tỉnh giáp ranh khác. Dù đầu ra khá ổn định nhưng điện tích rau chưa phát triển như dự kiến là do chi phí đầu tư khá cao nên không phải hộ nào cũng có điều kiện để xây dựng nhà lưới, hệ thống tưới để trồng rau an toàn.
Cũng vì chi phí sản xuất cao nên giá thành 1 kg rau an toàn thường cao hơn rau bình thường cùng loại vài ngàn đồng, đo vậy chỉ có một bộ phận nhỏ người tiêu dùng có mức thu nhập cao mới mua rau an toàn cho bữa ăn hàng ngày (Hạ, 2005). Đa số người tiêu dùng rất quan tâm đến vệ sinh an toàn thực phẩm, nên họ thích mua RAT tại các siêu thị vì biết được nguồn gốc của nhà sản xuất. Chính sự thuận lợi về mặt cầu nên diện tích trồng và lượng RAT tiêu thụ tại Tp. Hồ Chí Minh thời gian qua đã tăng đáng kể.
Xã Tân Phú Trung, Củ Chỉ còn thành lập 1 liên tô va 1 hợp tác xã sản xuất RAT, hoạt động công nghiệp có trang bị máy tính, máy fax và website dé giới thiệu và giao dịch sản phẩm (Cường, 2004). Năm 2005, thành phố Hồ Chí Minh tăng điện tích gieo trồng RAT lên 8.000 ha, với sản lượng tương đương 160. Dé cải thiện đầu ra cho sản phẩm RAT, hiện tại nhiều đơn vị kinh doanh cũng đã hướng đến việc xuất khâu. Mới đây, liên tổ sản xuất RAT Tân Phú Trung đã ký hợp đồng xuất khẩu 5.000 tấn rau đay sang thị trường Nhật.
Hiện tại mỗi tháng Sao Việt xuất khẩu sang thị trường Nga 1,5 tắn khổ qua, 2,5 tấn gắc và 700 kg môn bạc hà. Riêng mặt hàng bắp cải, giữa tháng 12 này Sao Việt cũng sẽ xuất container đầu tiên sang Nga (Cường, 2004). Một nghịch lý của chương trình phát triển RAT của TPHCM hiện nay là: thị trường thì lớn, nhưng người trồng “than” không có đầu ra, còn các điểm kinh đoanh thì bảo không tìm được nguồn hàng. Don cử như Trung tâm Sao Việt, hiện dang đầu tư, bao tiêu cho 50 hộ nông dân ở Bình Chánh và Đà Lạt dé trồng RAT trên điện tích 20 ha.
Mỗi ngày cung cấp cho thị trường TP từ 2,5-3 tan RAT và được bày ban tại 10 cửa hàng của trung tâm. Thế nhưng mỗi năm Sao Việt phải chịu lỗ hơn 2 tỉ đồng từ chương trình này do khó khăn trong tiêu thụ (Cường, 2004). = —————-----uảnn ©- ee er re oo ——_ - - ~ _—— Kiểm tra dư lượng thuốc trừ sâu trên hơn 3.100 mẫu rau củ quả các loại lấy từ các địa bàn sản xuất rau, chợ đầu mối, những don vị cung ứng rau qua., Chi cục bảo vệ thực vật TP HCM đã phát hiện có 37 mẫu vượt giới hạn cho phép, trong đó đến 34 mẫu là rau sạch, rau an toàn (Anh, 2005). Năm 2003, khi thành phố Hồ Chí Minh triển khai chương trình rau an toàn, Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang đã tiên phong, ký kết hợp đồng kinh tế với nông dân xã Tân Quý Tây, huyện Bình Chánh đầu tư vốn, kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm với phương châm bảo đảm lợi nhuận én định cho nông dân, để thực hiện mô hình sản xuất rau an toàn.
Năm 2003 công ty lỗ 1,4 tỉ đồng, năm 2004 lỗ 1,8 tỉ đồng và năm 2005 lỗ 770 triệu đồng. Tổng cộng 3 năm, số lỗ ma công ty đầu tư vào kinh doanh rau sạch xấp xi 4 ti đồng, tương đương kinh phí mỗi năm dành cho công tác khuyến nông trên địa bàn TPHCM (Cường, 2006).3 Sự khác biệt của nghiên cứu này Rau an toàn là vấn đề đã được nghiên cứu bỡi nhiều đề tài trước đây. Do đó khi nghiên cứu đề tài này, tác giả đã cố gắng để có được những nét mới trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước và phù hợp với tình hình thực tế. Nhìn chung, các đề tài khóa trước khi nghiên cứu về sản xuất và tiêu thụ rau an toàn, tác giả thường chú trọng vào miêu tả đặc điểm nông hộ và tính toán kết quả sản xuất như lợi nhuận, thu nhập và hiệu quả sản xuất như tỉ suất lợi nhuận/chỉ phí, doanh thu/chi phí.Những yếu tố ảnh hưởng đến kết qua, hiệu quả sản xuất rau an toàn hoặc là những khó khăn mà các nông hộ đang gặp phải không được phân tích rõ.
Do đó, những đề tài trên đừng lại ở việc cung cấp thông tin mà không đưa ra được khuyến cáo giúp người sản xuất giải quyết những vấn đề trọng tâm hiện nay. Đề tài “ Phân tích các trở ngại đối với sản xuất và tiêu thụ rau an toàn ở huyện Hóc Môn”, tập trung vào tìm hiểu các trở ngại mà các nông hộ đang gặp phải và tác động của nó đến sản xuất, tiêu thụ rau an toàn. Từ đó, sẽ xây dựng hướng giải quyết. Mục đích chính của dé tài là đưa ra các khuyến cáo giúp các nông hộ giải quyết các khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn.2 đã nêu ra các thông tin xung quanh vấn đề sản xuất và tiêu thụ rau an toàn.
Bên cạnh các thông tin khả quan vê sản xuât rau an toàn, còn có nhiêu nu TT (TỔ sa ẽaẽeẹeann vướng mac, khó khăn trong sản xuất — tiêu thụ. Do đó, mục đích nghiên cứu và nội dung của đề tài này tương đối phù hợp với thực tế và có tích thời sự.4 Văn bản pháp luật liên quan đến sản xuất và tiêu thụ rau an toàn Thành phố đã có chủ trương triển khai chương trình sản xuất rau an toàn từ năm 1996 (Thống báo số 395/TB-ỤB ngày 2/04/1996 của UBND Thành phó), thành lập Ban chi đạo sản xuất rau an toàn (Quyết định số 2958/ QD-UB-KT ngày 19/06/1996) và giao nhiệm vụ cụ thé cho một số sở ngành như: Nông nghiệp - PTNT, Khoa học - CN MT, Thương mại, Hội Nông dân tổ chức vận nông dân sản xuất và tiêu thụ rau an toàn. Bộ Nông nghiệp - PTNT đã ban hành "Quy định tạm thời về sản xuất rau an toàn" (Quy định số 67/1998-BNN-KHCN ngày 28/4/1998) với yêu cầu nội chất của sản phẩm rau phải dưới mức cho phép theo tiêu chuẩn của các tổ chức Quốc tế FAO, WHO hoặc của một số nước tiên tiến như Nga, Mỹ. Chỉ tiêu nội chất được quy định cho rau gồm có các chỉ tiêu về dư lượng thuốc BVTV, hàm lượng Nitrate (NO3), hàm lượng một số kim loại nặng chủ yếu Cu, Pb, Hg, mức độ nhiễm vi sinh vật gây bệnh (Ecoli, Samonella) và ký sinh trùng đường ruột (trứng giun đũa - Asiaris).
UBND Thanh phố đã có chi thị số 37/1998/CT-UB-KT ngày 16/10/1998 về việc triển khai thực hiện Quyết định số 67/QD-BNN-KHCN của Bộ trưởng Bô Nông nghiệp - PTNT trên địa bàn Thành phố.