CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG, THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ NÔNG SẢN HÀNG HÓA 1.Khái niệm, đặc điểm vai trò của tiêu thụ sản phẩm trong các doanh nghiệp nông nghiệp 1.1 Khái niệm, đặc điển nông sản [1] Nông sản được hiểu theo nhiều khái niệm khác nhau: - Nông sản là những sản phẩm hoặc bán thành phẩm của ngành sản xuất hàng hóa thông qua gây trồng và phát triển của cây trồng. Nông sản còn hàm nghĩa những sản phẩm từ hoạt động làm vườn và thực tế nông sản thường được hiểu là những sản phẩm hàng hóa được làm ra từ tư liệu sản xuất là đất. Nông sản hàng hóa là khái niệm dùng để chỉ các loại nông sản mà người nông dân sản xuất ra với mục đích bán ra thị trường. Ngược với nông sản hàng hóa là nông sản phục vụ cho mục đích tự sản, tự tiêu.
Ở Việt Nam, Theo quy định tại Khoản 7 Điều 3 Nghị định 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn thì khái niệm nông sản được quy định cụ thể như sau: “Nông sản là sản phẩm của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp”. Từ cách hiểu nêu trên cho thấy nông sản và sản xuất nông sản có những đặc điểm: + Tính thời vụ: Do đặc tính sản xuất gắn với điều kiện thời tiết, khí hậu cụ thể, sản phẩm nông sản khó bảo quản, vận chuyển mà ta thấy nông sản có tính thời vụ, chưa đến vụ thì thiếu hàng trầm trọng dẫn đến đột biến giá, nhưng khi vào vụ thu hoạch thì hàng thừa, tồn kho, giá nông sản giảm mạnh gây thiệt hại cho người sản xuất và kinh doanh. Vì đặc điểm hàng nông sản là mang tính chất thời vụ nên việc thu mua thường rất khó khăn. Thu mua xong 4 phải trải qua khâu , bảo quản, sơ chế, chế biến để tiêu dung.
Tính chất mùa vụ của sản xuất nông nghiệp tác động mạnh mẽ đến cung - cầu của thị trường và giá cả nông sản. Sù khan hiếm dẫn đến giá cả cao vào đầu vụ, cuối vụ và sự dư thừa làm cho giá cả giảm vào chính vụ là một biểu hiện của đặc điểm này. Việc chế biến bảo quản và dự trữ sản phẩm để đảm bảo cung cầu tương đối ổn định là một yêu cầu được chú ý dến trong quá trình tiêu thụ sản phẩm. + Tính phân tán: Việc sản xuất nông sản mang tính phân tán, mỗi loại cây khác nhau phù hợp với điều kiện thời tiết, khí hậu khác nhau, do đó, được trồng và phát triển ở những vùng khác nhau.
Nông sản phân tán ở các vùng nông thôn và do hàng triệu nông dân sản xuất ra, nhưng sức tiêu thụ lại tập trung ở thành phố và các khu công nghiệp, việc bảo quản đóng vai trò quan trọng vì đặc điểm hàng nông sản dễ hư hỏng nếu không được bảo quản tốt, hàng hoá sẽ không đảm bảo chất lượng để tiêu dùng. + Tính khu vực: Việc sản xuất nông sản phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, thời tiết, điều kiên thổ nhưỡng từng vùng, từng địa phương. Tính khu vực xuất phát từ đặc điểm của sản xuất nông nghiệp gắn chặt với điều kiện tự nhiên mang tính chất vùng. Lợi thế so sánh của các vùng là yếu tố rất quan trọng trong việc lựa chọn hướng sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp vầ tổ chức hợp lý quá trình tiêu thụ sản phẩm.
Có những sản phẩm chỉ thích ứng với một vùng, thậm trí tiểu vùng mà lợi thế tuyệt đối đó được coi như là những đặc điểm mà vùng khác, khu vực khác không có. Khái niệm, đặc điểm tiêu thụ nông sản[3] Tiêu thụ nông sản là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tiêu thụ nông sản là thực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá, là đưa sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng, là cầu nối trung gian giữa một bên là sản xuất và phân phối và một bên là tiêu dùng. Thích ứng với mỗi cơ chế quản lí, hoạt động Tiêu thụ nông sản được quản lí bằng các hình thức khác nhau.
5 Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nhà nước quản lí kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh. Các cơ quan hành chính kinh tế can thiệp sâu vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, HTX, hộ nông dân nhưng lại không chịu trách nhiệm về các quyết định hiệu quả cuối cùng của sản xuất. Các vấn đề của sản xuất như : Sản xuất cái gì ? Bằng cách nào ? Cho ai ? Đều do nhà nước quy định thì Tiêu thụ nông sản chỉ là việc tổ chức bán hàng hoá sản xuất ra theo kế hoach và giá cả được ấn định từ trước. Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình quyết định ba vấn đề quan trọng của sản xuất nên việc tiêu thụ nông sản cần được hiểu theo cả nghĩa rộng và cả nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng Tiêu thụ nông sản là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu từ việc nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu khách hàng, đặt hàng và tổ chức sản xuất đến việc tổ chức các nghiệp vụ tiêu thụ, xúc tiến bán hàng… nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất. Theo nghĩa hẹp, Tiêu thụ nông sản , lao vụ, dịch vụ là việc chuyển dịch quyền sở hữu sản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ đã thực hiện cho khách hàng đồng thời thu được tiền hàng hoá hoặc được quyền thu tiền bán hàng. Vai trò của tiêu thụ đối với hoạt động sản xuất kinh doanh. Tiêu thụ đóng vai trò quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của sản xuất.
Khi sản phẩm của nông nghiệp được tiêu thụ, tức là nó đã được người tiêu dùng chấp nhận. Sức Tiêu thụ của doanh nghiệp thể hiện ở mức bán ra, uy tín của doanh nghiệp, chất lượng của sản phẩm, sự thích ứng với nhu cầu của người tiêu dùng và sự hoàn thiện của các hoạt động dịch vụ. Hiểu cách khác Tiêu thụ phản ánh đầy đủ điểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệp. - Tiêu thụ là căn cứ để lập ra kế hoạch sản xuất cái gì, sản xuất với khối lượng bao nhiêu, chất lượng như thế nào.
Nếu không căn cứ vào sức tiêu thụ trên thị trường mà sản xuất ồ ạt, không tính đến khả năng tiêu thụ sẽ dẫn đến tình trạng ế thừa, tồn đọng sản phẩm, gây ra sự đình trệ trong sản xuất kinh doanh, dẫn đến nguy cơ phá sản. 6 - Tiêu thụ quyết định khâu cung ứng đầu vào thông qua sản xuất. Hoạt động Tiêu thụ có ý nghĩa quyết định đối với các hoạt động nghiệp vụ khác của doanh nghiệp như: Nghiên cứu thị trường, đầu tư mua sắm trang thiết bị, tài sản, tổ chức sản xuất, tổ chức lưu thông, dịch vụ… Nếu không tiêu thụ được sản phẩm thì không thể thực hiện được quá trình tái sản xuất, bởi vì người sản xuất sẽ không có vốn để thực hiện nghiệp vụ sản xuất, nuôi trồng của mình. Tiêu thụ giúp người sản xuất thu hồi được vốn, bù đắp chi phí và có lãi.
Tiêu thụ giúp cho người sản xuất có các nguồn lực cần thiết để thực hiện quá trình tái sản xuất tiếp theo, công tác tiêu thụ được tổ chức tốt sẽ là động lực thúc đẩy sản xuất và là yếu tố tăng nhanh vòng quay của vốn. Bởi vậy, Tiêu thụ càng được tiến hành tốt bao nhiêu thì chu kỳ sản xuất kình doanh càng ngắn bấy nhiêu, vòng quay vốn càng nhanh, hiệu quả sử dụng vốn càng cao. Tốc độ Tiêu thụ càng cao thì thời gian sản phẩm nằm trong khâu lưu thông càng giảm điều đó có nghĩa là sẽ giảm được chi phí lưu thông, giảm chi phí luân chuyển, tồn kho, bảo quản, hao hụt, mất mát vv… Tạo điều kiện cho người sản xuất hạ giá thành sản phẩm và giá bán, tăng sức cạnh tranh và đảm bảo mức lợi nhuận dự kiến. Đặc điểm tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Xuất phát từ đặc điểm của nông sản hàng hóa là sản phẩm nông nghiệp truyền thống chiếm tỷ trọng lớn; sản xuất nhiều loại nông sản theo tập quán truyền thống, dựa trên lợi thế tự nhiên; phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời vụ.
Xuất phát từ đặc điểm nông sản hàng hóa nước ta và truyền thống sản xuất nông nghiệp lâu đời nên trong quá trình lưu thông, tiêu thụ, có những đặc điểm sau: - Nông sản nước ta chịu ảnh hưởng lớn của các điều kiện tự nhiên như đất đai , khí hậu thời tiết, địa hình, nguồn nước… Các điều kiện tự nhiên tác động trực tiếp đến sự tăng trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi, từ đó 7 tác động đến năng suất, chất lượng, giá cả, nguồn hàng nông sản. Việc sản xuất, thu hoạch nông sản thường được tiến hành theo mùa vụ rõ ràng. Năng suất, chất lượng, giá cả của nông sản có sự biến động tùy thuộc vào từng mùa vụ. Vào chính vụ, sản lượng lớn, chất lượng đồng đều, phong phú về chủng loại, giá rẻ.
Trái lại thì sản lượng thấp, chất lượng không đồng đều, giá cao. - Nông sản hàng hóa mang tính phân tán, mỗi loại cây khác nhau phù hợp với điều kiện thời tiết, khí hậu khác nhau, do đó, được trồng và phát triển ở những vùng khác nhau. Nông sản phân tán ở các vùng nông thôn và do hàng triệu nông dân sản xuất ra, nhưng sức tiêu thụ lại tập trung ở thành phố và các khu công nghiệp. Phương thức lưu thông hàng nông sản là phân tán - tập trung, nông thôn - thành thị.
Vì vậy, việc bố trí thu mua, chế biến, vận chuyển phải phù hợp với các đặc điểm nói trên. - Các mặt hàng nông sản có tính chất tươi sống, dễ bị hỏng, suy giảm chất lượng. Vì vậy, cần đặc biệt lưu ý phân loại, chế biến, bảo quản, vận chuyển, có phương thức kinh doanh phù hợp với đặc điểm của từng loại nông sản. Giá cả hàng hóa nông sản phụ thuộc vào chất lượng, nhưng chất lượng hàng nông sản không những phụ thuộc vào khâu sản xuất mà còn phụ thuộc rất nhiều vào khâu bảo quản, chế biến.
Vì vậy, cần phải đặc biệt quan tâm đến việc chế biến và bảo quản nông sản trong lưu thông. - Nông sản rất phong phú và đa dạng về chủng loại và chất lượng. Mỗi loại cây trồng, vật nuôi khác nhau thì có điều kiện sinh trưởng, phát triển khác nhau, thu mua chế biến theo cách rỉêng. Vì vậy, chất lượng không đồng đều.
- Do sản phẩm nông nghiệp và nông sản mang tính chất vùng và khu vực.