Đặt vấn đề Vốn được mệnh danh là “lá phổi xanh” của trái đất, rừng chiếm 31% diện tích đất trên toàn thế giới, nếu như tất cả thực vật trên Trái đất đã tạo ra 53 tỷ tấn sinh khối (ở trạng thái khí tuyện đối là 64%) thì rừng chiếm 37 tỷ tấn (70%) và các cây rừng sẽ thải ra 52,2 tỷ tấn (44%) dưỡng khí để phục vụ cho hô hấp của con người, động vật và sâu bọ trên Trái đất trong khoảng 2 năm (S. Không những thế với thảm thực vật dày đặc rừng còn giữ vai trò to lớn đối với con người như: cung cấp gỗ, củi, điều hòa khí hậu, ngăn chặn gió bão, tạo ra oxy điều hòa nước, là nơi cư trú của các loài động thực vật và là nơi tàng trữ các nguồn tài nguyên quý hiếm. Ngoài ra rừng còn đóng vai trò như một động lực phát triển kinh tế ở những nước có nền kinh tế đang phát triển bởi gỗ và lâm sản ngoài gỗ mà rừng cung cấp. Rừng Việt Nam là nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú, chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế, là nguồn cung cấp nhiều sản phẩm cho xã hội, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn với đời sống nhân dân và sự sống còn của dân tộc.
Theo tài liệu mà Maurand P công bố trong công trình “ Lâm nghiệp Đông Dương” thì đến năm 1943 rừng nước ta vẫn còn khoảng 14,3 triệu ha, che phủ 43,7% diện tích lãnh thổ.Vào thời kì đó độ che phủ ở Bắc Bộ vào khoảng 68%, ở Trung Bộ khoảng 44% và ở Nam Bộ vào khoảng 13%. Trước năm 1945, rừng nguyên sinh ở Việt Nam bị phá hoại rất nhiều và chỉ còn lại ở những nơi xa xôi, hiểm trở, nhưng do khả năng phục hồi của rừng rất cao nên những khu rừng già có trữ lượng cao (từ 250m3 - 300m3), vẫn còn khá phổ biến ở nhiều vùng núi Việt Nam. Quá trình mất rừng sảy ra liên tục từ năm 1943 đến đầu những năm 1990, đặc biệt từ năm 1980 - 1995 diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh, bình quân mỗi năm hơn 100 ngàn ha rừng bị mất. Các số thống kê cho thấy, đến năm 2000 nước ta có khoảng gần 11 triệu ha rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm khoảng 9,4 triệu ha và khoảng 1,6 triệu ha rừng trồng, độ che phủ cửa rừng chỉ đạt 33% so với 45% của các thời kỳ giữa những năm 40 của thế kỷ XX.
n 2 Sự suy giảm tài nguyên rừng không những làm giảm tính đa dạng sinh học, mất đi nguồn gen sinh vật quý và những giá trị văn hóa tồn tại trong nó mà còn làm xuất hiện hàng hoạt các hiện tượng biến đổi khí hậu như hiệu ứng nhà kính, thủng tầng ôzôn hay gần đây nhất là sự biến đổi như lũ quét, sạt lở, gây thiệt hại nặng nề về người và của, an ninh lương thực bị đe dọa. đó là câu trả lời của thiên nhiên với chính những gì mà con người đã gây ra. Chúng ta chỉ có duy nhất một trái đất này, đó là mái nhà duy nhất để sinh sống, mảnh vườn duy nhất để trồng cây, một bầu dưỡng khí duy nhất để thở. những thứ mà chúng ta chẳng thể có được đến hai lần.
Vậy chúng ta cần phải bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta khỏi những đe dọa của thiên nhiên. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng rừng ở nước ta bị suy giảm lại chính là do con người không có ý thức bảo vệ, khai thác săn bắn bừa bãi với mục đích lợi ích cá nhân. Ngoài yếu tố trên còn có những yếu tố sát thực khác như: đốt phá rừng trái phép, trình độ dân trí ở vùng sâu vùng xa thấp, hoạt động khuyến nông, khuyến lâm chưa phát triển, áp lực về dân số ở các vùng có rừng tăng nhanh, nghèo đói hoàn cảnh kinh tế khó khăn, sinh kế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên rừng, nạn du canh, du cư đốt nương làm rẫy của các đồng bào dân tộc miền núi đã làm cho diện tích và trữ lượng rừng của nước ta bị suy giảm nghiêm trọng. Bên cạnh đó thì hệ thống pháp luật, chính sách Nhà nước về quản lý bảo vệ rừng, về tổ chức của lực lượng kiểm lâm chưa hoàn chỉnh, hoạt động thiếu thống nhất, đồng bộ và còn nhiều bất cập, nên hiệu lực quản lý của Nhà nước về công tác quản lý bảo vệ rừng bị giảm sút, không phát huy được sức mạnh tổng hợp của lực lượng kiểm lâm nhân dân.
Hiện trạng này đang đặt ra một vấn là trong khi xây dựng các quy định về quản lý bào vệ rừng trên phạm vi cả nước, phải nghiên cứu và tính toán nhu cầu thực tế chính đáng của người dân mời có thể đảm bảo tính khả thi của các quy định, đồng thời bảo đảm cho rừng không bị khai thác lợi dụng quá mức, ảnh hưởng xấu đến chức năng của rừng tự nhiên. Đây là bài toán khó, cần sự nghiên cứu tổng hợp và có một giải pháp cụ thể đối với công tác quản lý bảo vệ rừng. n 3 Để khắc phục và tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, hạn chế tới mức thấp nhất những tác hại dẫn đến việc rừng bị suy giảm. Đảng và nhà nước ta đã kịp thời có những chủ trương chính sách về quản lý bảo vệ rừng như: Nghị định số 157/2013/NĐ-CP, thông tư số 34/2009/TT-BNNPPTNT, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 Nậm Tha là xã vùng III thuộc huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai, cách trung tâm huyện 24 km.
Cuộc sống của người dân ở đây còn nhiều khó khăn, đa số người dân sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, lâm nghiệp, sản xuất mang tính tự cung tự cấp, trình độ dân trí thấp và không đồng đều, phong tục tập quán còn lạc hậu, tình trạng thiếu việc làm còn khá phổ biến và lao động chủ yếu là lao động thuần nông. Áp lực cuộc sống khiến cho người dân có tác động xấu đến tài nguyên rừng và giảm chất lượng rừng. Công tác quản lý, bảo vệ rừng những năm gần đây đã được các cấp chính quyền quan tâm và đầu tư, song vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức. Xuất phát từ vấn đề trên và để góp phần cho công tác quản lý bảo vệ rừng ở địa phương được tốt hơn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng tại xã Nậm Tha - huyện Văn Bàn - tỉnh Lào Cai".
Mục đích nghiên cứu Đề tài thực hiện nhằm đánh giá tình hình công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng tại xã Nậm Tha - huyện Văn Bàn – tỉnh Lào Cai và đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng, góp phần cho công tác quản lý bảo vệ rừng ở địa phương ngày một tốt hơn. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng tại địa phương. - Phân tích những điểm mạnh, điểm yếu trong công tác quản lý bảo vệ rừng của địa phương. - Đề xuất một số giải pháp góp phần cho công tác quản lý bảo vệ rừng tại địa phương.Ý nghĩa trong hoc tập: Đề tài có ý nghĩa rất lớn trong công việc: n 4 - Giúp cho sinh viên kiểm chứng lại những kiến thức lý thuyết đã học, giúp sinh viên làm quen với thực tế, tích lũy học hỏi kinh nghiệm.
- Giúp sinh viên có khả năng giao tiếp, làm việc với người dân. - Nắm bắt được các phương pháp trong điều tra, đánh giá được công tác quản lý bảo về rừng các cấp. - Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho khoa, trường và địa phương. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Đề tài thực hiện nhằm nắm bắt được hiện trạng tài nguyên rừng, đất lâm nghiệp, tình hình thực tế về quản lý bảo vệ rừng và tình hình vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng tại địa phương, từ đó đưa ra một số giải pháp thiết thực nhất giúp người dân và chính quyền địa phương có kế hoạch quản lý bảo vệ rừng trong thời gian tới đạt hiệu quả cao.
n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Quản lý bảo vệ rừng là một lĩnh vực tương đối rộng lớn bao gồm hàng loạt các biện pháp quản lý bảo vệ rừng khác nhau như quản lý bảo vệ bằng hệ thống các lâm luật, chính sách, các nghị định như giao đất, giao rừng, phòng chống lửa rừng. Trước đây vấn đề quản lý, sử dụng rừng và đất rừng chỉ đơn thuần là việc khai thác các sản phẩm của rừng mà ít hoặc chưa chú trọng tới việc bảo vệ, tái tạo và phát triển vốn rừng cũng như việc phát huy vai trò của rừng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái. Hiện nay vấn đề quản lý sử dụng rừng đều phải dựa trên cơ sở đảm bảo sự phát triển bền vững.
Quản lý rừng bền vững là thực hiện triệt để và đồng bộ các biện pháp nhằm không ngừng phát huy hiệu quả kinh doanh, ổn định liên tục những tác dụng và lợi ích của rừng trên lĩnh vực khác nhau. Sự phát triển bền vững này phải đảm bảo 3 yếu tố sau: Bền vững về mặt môi trường sinh thái: Quản lý bảo vệ phải duy trì hệ thống sinh vật, bảo vệ phát triển đa dạng sinh học và tính ổn định của hệ sinh thái. Bền vững về mặt xã hội: Thu hút lao động vào nghề rừng, tạo công ăn việc làm ổn định cho người lao động. Đáp ứng được nhu cầu sử dụng tài nguyên rừng của thế hệ hiện tại đồng thời không làm ảnh hưởng đến lợi ích của thế hệ mai sau.
Bền vững về mặt kinh tế: Cây trồng phải cho hiệu quả kinh tế cao, năng xuất chất lượng ổn định đồng thời phải được thị trường chấp nhận. Nghĩa là phát triển phải đảm bảo lợi ích lâu dài cho con người, tài nguyên sinh vật, môi trường cần phải giữ gìn cho các thế hệ sau, thể hiện ba mặt đó là phù hợp về môi trường, có lợi ích về mặt xã hội đáp ứng về mặt kinh tế. Lê Sỹ Trung, 2008) [5]. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 2.
Tình hình quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên thế giới Do sự thay đổi khí hậu toàn cầu, nóng lên của trái đất, thiên tai hạn hán, lũ lụt tăng nhanh và sự xâm hại của con người đã làm cho diện tích rừng bị suy giảm về cả số lượng và chất lượng. Trước đây trên thế giới có 17,6 tỷ ha rừng, trong đó có diện tích rừng nguyên sinh là 8,08 tỷ ha.