chương 1 Thông tư 02/NN-KNKL/TT ngày 01 tháng 3 năm 1997 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện Nghị định số 07/CP của Chính phủ về quản lý giống cây trồng đã có quy định "Hạt của giống lai không dùng làm giống cho đời sau". Nhân giống hom làm rút ngắn chu kỳ sinh sản, chu kỳ kinh doanh, đồng thời rút ngắn thời gian thực hiện chương trình cải thiện giống cây rừng.Trật tự các bước trong một chương trình cải thiện giống cây rừng thông thường là khảo nghiệm loài khảo nghiệm xuất xứ chọn lọc cây trội khảo nghiệm giống xây dựng rừng giống và sản xuất hạt giống trồng rừng. Ngoài ra, sử dụng nhân giống hom có thể đi trực tiếp từ chọn xuất xứ, chọn cây trội đến gây trồng rừng mới, rút ngắn một cách đáng kể các chương trình cải thiện giống cho các loài cây rừng. Vì thế nhân giống hom đang được đưa vào các chương trình chọn giống cổ điển để rút ngắn thời gian đi từ nghiên cứu đến trồng rừng sản xuất trên quy mô lớn.
Nhân giống hom là một phương thức nhân nhanh các loài cây quý hiếm đang bịkhai thác cạn kiệt, là phương thức góp phần bảo tồn nguồn gen cây rừng. Hiện nay, nhân giống hom đã được thực hiện thành công cho một số loài cây rừng như Pơmu (Fokienia hodginsii), Bách xanh (Calocedrus macrolepis),Thông đỏ Pà Cò (Taxus chinensis), Thông đỏ Đà Lạt (Taxus bacata). Từ cây hom có thể xây dựng các khu bảo tồn ex situ cho các loài cây quý hiếm hoặc nhân giống cho các chương trình trồng rừng. Nhân giống hom là phương thức nhân giống bổ sung cho các loài cây khó thu hái và bảo quản hạt.Nhân giống hom còn có giá trị đối với những loài cây gỗ khó thu hái hạt hoặc hạt khó bảo quản như các loài cây thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Sồi dẻ (Fagaceae).
hoặc các cây gỗ có giá trị mà ở giai đoạn non chưa thể ra hoa kết hạt. Các nhân tố ảnh hưởng đến ra rễ của hom giâm Có thể chia các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom giâm thành hai nhóm là nhóm các nhân tố nội sinh và nhóm các nhân tố ngoại sinh. Thuộc nhóm thứ nhất là đặc điểm di truyền của loài, của xuất xứ và của cá thể, vai trò của tuổi cây, tuổi cành, vị trí cành, pha phát triển của cành và các chất điều tiết sinh trưởng. Thuộc nhóm thứ hai là các loại hoá chất kích thích ra rễ và các nhân tố hoàn cảnh như độ ẩm, ánh sáng, nhiệt độ.
Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 16 Đặc điểm di truyền của loài: Nhiều nghiên cứu cho thấy không phải tất cả các loài đều có khả năng ra rễ như nhau. Theo khả năng giâm hom có thể chia thực vật thành 2 nhóm chính: Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hom cành, là nhiều loài cây thuộc họ Dâu tằm (Moraceae) như Dâu tằm, Đa, Sung, Dương v. một số loài thuộc họ Liễu (Salicaceae) như Dương (Populussp. và các loài cây nông nghiệp như Sắn, Mía, Khoai lang, Rau muống v.
Đối với những loài cây này khi giâm hom không cần xử lý thuốc hom giâm vẫn ra rễ bình thường. Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hạt, khả năng ra rễ của hom giâm bị hạn chế ở các mức độ khác nhau. Những loài dễ ra rễ như Sở đến 35 tuổi vẫn có khả năng ra rễ 70 - 90%, Liễu sam (Cryptomeria japonia) 40 - 50 tuổi vẫn có khả năng ra rễ 90%, Thông đỏ Pà Cò (Taxus chinensis) 40 - 50 tuổi vẫn ra rễ 80 - 90%. Những loài cây khó ra rễ như Mỡ (Manglietia glauca) 5 tuổi chỉ ra rễ 14%, đối với nhóm này muốn có tỷ lệ ra rễ cao phải dùng các cây non và phải xử lý các chất kích thích ra rễ thích hợp.
Tuổi cây mẹ lấy cành: Khả năng ra rễ không những do tính di truyền quy định mà còn phụ thuộc rất lớn vào tuổi cây mẹ lấy cành. Thông thường, cây chưa sinh sản hạt dễ nhân giống bằng hom hơn khi cây đã sinh sản hạt, hom lấy từ cây tuổi non dễ ra rễ hơn hom lấy từ cây tuổi già. Ở một số loài cây, thậm chí khả năng ra rễ của hom chỉ tồn tại ở cây 1 - 2 tuổi. Cây non không những có tỷ lệ ra rễ lớn mà thời gian ra rễ cũng ngắn hơn.
Ví dụ ở Vân sam hom lấy từ cây 30 - 35 tuổi phải sau 150 ngày mới ra rễ, trong lúc hom lấy từ cây 6 - 8 tuổi thì sau 60 - 70 ngày đã ra rễ. Vị trí cành và tuổi cành: Hom lấy từ các phần khác nhau trên thân sẽ có tỷ lệ ra rễ khác nhau. Thông thường thì hom lấy từ cành ở tầng dưới dễ ra rễ hơn cành ở tầng trên, cành cấp 1 dễ ra rễ hơn cành cấp 2, cấp 3. Một đặc điểm khá rõ nét là cành chồi vượt dễ ra rễ hơn cành lấy từ tán cây, vì vậy đối với nhiều loài cây, người ta thường xử lý cho cây ra chồi vượt để lấy hom giâm.
Ví dụ: lấy cành ở cây Mỡ 20 tuổi thì không thể ra rễ, song chồi vượt của chúng lại có tỷ lệ ra rễ 75 - 85%. Tuy nhiên khả năng ra rễ cao của cành chồi vượt cũng thay đổi theo vị trí lấy hom. Ví dụ, trong lúc ở Keo lá tràm (A. auriculiformis) và Keo tai tượng (A.mangium) hom ngọn có tỷ lệ ra rễ 100%, hom sát ngọn và hom giữa có tỷ lệ ra rễ 93,3%, hom sát gốc có tỷ lệ ra rễ 66,7 - 97,6% (Bhuakuni, D.
Tuổi cành cũng ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ ra rễ. Thông thường cành nửa hóa gỗ (cành bánh tẻ) là loại cành thường cho tỷ lệ ra rễ cao nhất, cành hóa gỗ yếu hoặc đã hóa gỗ thường cho tỷ lệ ra rễ kém hơn. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 17 Như vậy, nhìn chung cây non và cành nửa hóa gỗ thường cho tỷ lệ ra rễ cao nhất, song tùy loài cây mà ảnh hưởng của tuổi cây và tuổi cành đến ra rễ của hom giâm được thể hiện khác nhau. Qua nghiên cứu mới xác định được tuổi cây và tuổi cành thích hợp cho giâm hom ở từng loài.
Các chất điều hòa sinh trưởng: Trong các chất điều hòa sinh trưởng thì auxin được coi là chất quan trọng nhất trong quá trình ra rễ của cây hom. Song nhiều chất khác tác động cùng auxin và thay đổi hoạt tính của auxin cũng tồn tại một cách tự nhiên trong các mô của hom giâm và tác động đến quá trình ra rễ của chúng. Trong đó quan trọng nhất là: Rhizocalin, đồng nhân tố ra rễ, và các chất kích thích và kìm hãm ra rễ. Rhizocalin: Chất đặc biệt này được coi là cần thiết cho hình thành rễ của nhiều loài cây.
Builenne (1964) cho rằng Rhizocalin là một phức chất của ba nhân tố: Nhân tố đặc thù có khả năng chuyển dịch, có nhóm diphenol được sản sinh từ lá dưới ánh sáng; Nhân tố không đặc thù và linh hoạt (là auxin) tồn tại ở các nồng độ theo giới hạn sinh lý; Các enzym đặc thù có thể ở dạng phenol - oxydaza nằm ở trụ bì, phloem và tượng tầng. Phức hợp hai chất đầu cùng với chất thứ ba tạo thành Rhizocalin phát động ra rễ ở hom giâm. Tuy vậy đến nay người ta vẫn chưa biết chính xác bản chất của chúng. Đồng nhân tố ra rễ (rooting co-factors): Hess (1961) cho rằng có một số chất nội sinh điều phối hoạt tính của IAA gây nên khởi động ra rễ và gọi là đồng nhân tố.
Một số chất thuộc loại này về sau đã được xác định là axit chlorogenic, axit isochlorogenic và chất kích thích khác chưa rõ. Những nghiên cứu sau này của các tác giả khác cũng ủng hộ quan điểm đồng nhân tố. Các chất kích thích ra rễ và kìm hãm ra rễ: Nhiều nghiên cứu đã nêu lên sự tồn tại của chất kích thích ra rễ trong các mô của các loài cây dễ ra rễ. Các chất kích thích và kìm hãm ra rễ đều có thể tồn tại ở hầu hết thực vật, tiềm năng ra rễ của hom giâm được xác định bằng nồng độ tương đối của những chất này.
Các loài cây dễ ra rễ chứa nồng độ cao các chất kích thích ra rễ, còn các loài cây khó ra rễ lại chứa nồng độ cao các chất kìm hãm ra rễ. Các nhân tố ngoại sinh ảnh hưởng đến ra rễ của hom giâm trước hết là điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành, sau đó các nhân tố như mùa vụ giâm hom, các điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm và giá thể giâm hom. Thời vụ giâm hom: Thời vụ giâm hom là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự ra rễ của hom giâm. Tỷ lệ ra rễ của hom giâm phụ thuộc vào thời vụ lấy cành và thời vụ giâm hom.
Một số loài cây có thể giâm hom quanh năm, song nhiều loài cây có tính thời vụ rất rõ rệt. Hom lấy trong thời kỳ cây mẹ có hoạt động sinh trưởng mạnh thường có tỷ lệ ra rễ cao hơn so với các thời kỳ khác. Thay đổi tỷ lệ ra rễ của hom giâm theo thời vụ được cho là do tình trạng dinh dưỡng của hom hoặc do thay đổi trong quan hệ của các nhân tố nội sinh kích thích và kìm hãm ra rễ (Tewari, 1994), gắn liền với sự thay đổi Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 18 trạng thái hình thái-sinh lý của cành làm ảnh hưởng đến hoạt động của tượng tầng, nơi xuất phát của các rễ bất định xuất hiện trong quá trình giâm hom. Ánh sáng: Ánh sáng đóng vai trò sống còn trong ra rễ của hom giâm (Tewari, 1994).
Không có ánh sáng và không có lá thì hom không có hoạt động quang hợp, quá trình trao đổi chất khó xảy ra, do đó không thể có hoạt động ra rễ. Mặc dầu một số loài cá biệt như cây Nhài Nhật (Gardenia radicans) hoặc Aucuba japonica có thể ra rễ cả khi bị che bóng 30 ngày. Song hầu hết các loài cây không thể ra rễ trong điều kiện che tối hoàn toàn, bất kể đó là nhóm cây ưa sáng hoặc chịu bóng. Nhiệt độ: Cùng với ánh sáng, nhiệt độ là một trong những nhân tố quyết định tốc độ ra rễ của hom giâm (Pravdin, 1938).
Ở nhiệt độ quá thấp hom nằm ở trạng thái tiềm ẩn và không ra rễ, còn ở nhiệt độ quá cao lại tăng cường độ hô hấp và bị hỏng, từ đó làm giảm tỷ lệ ra rễ.