Chương 1: Cơ sở khoa học và pháp lý của quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng ở huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng. Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng ở huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG 1.
Khái quát chung về bảo vệ và phát triển rừng 1. Khái niệm về bảo vệ và phát triển rừng “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên”[15]. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. a) Khái niệm về phát triển rừng Để duy trì và phát triển rừng đòi hỏi phải thực hiện các biện pháp BV và PT rừng.
BV và PT rừng là thuật ngữ được sử dụng và lý giải trong Luật BV và PT rừng năm 2004, cụ thể : “Phát triển rừng là việc trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khai thác, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng nghèo và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác để tăng diện tích rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học, khả năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và các giá trị khác của rừng”[15]. b) Khái niệm về bảo vệ rừng “Bảo vệ rừng là hoạt động của các chủ thể trong xã hội nhằm bảo đảm tính đa dạng sinh học của rừng, duy trì tính tự nhiên của rừng. Bảo vệ rừng là các hoạt động nhằm ngặn chặn và phòng ngừa các hành vi xâm phạm đến rừng như hành vi phá rừng, xâm hại rừng, …”[19] “Bảo vệ rừng cũng có thể được hiểu là tổng thể các hoạt động của tổ chức và cá nhân tác động vào rừng nhằm phòng, chống những tác động tiêu cực đến rừng để 10 duy trì và phát triển hệ sinh thái rừng, sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác; bảo tồn đa dạng sinh học và giữ gìn cảnh quan môi trường sinh thái”[21]. c) Khái niệm bảo vệ và phát triển rừng “Bảo vệ và phát triển rừng là tổng thể các hoạt động của tổ chức và cá nhân tác động vào rừng nhằm phòng, chống những tác động tiêu cực đến rừng để duy trì và phát triển hệ sinh thái rừng, sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác; bảo tồn đa dạng sinh học và giữ gìn cảnh quan môi trường sinh thái, đồng thời thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động vào rừng để nâng cao diện tích và chất lượng rừng, tính giá trị đa dạng sinh học, khả năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và các giá trị khác của rừng thông qua việc trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khi khai thác, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng nghèo”[19] BV và PT rừng được thực hiện thông qua nhiều biện pháp khác nhau, có thể kể đến như: - Chính quyền địa phương, cơ quan lâm nghiệp phai có kế hoạch và biện pháp về: định canh, định cư, phòng chống cháy rừng, chăn nuôi gia súc; - Cá nhân hay tập thể chỉ được khai thác rừng và sản xuất trên đất rừng khi được cơ quan lâm nghiệp cấp giấy phép, phải tuân theo các quy định về bảo vệ và phát triển rừng; - Biện pháp khoanh nuôi phục hồi rừng: thông qua các biện pháp bảo vệ, chăm sóc, gieo trồng bổ sung để thúc đẩy tái sinh rừng tự nhiên, phục hồi rừng có giá trị; - Các hoạt động liên quan đến phòng ngừa và ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng như: Phá rừng, đốt rừng, lấn chiếm đất rừng, gây ô nhiễm môi trường rừng, phá hoại cảnh quan rừng; khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, săn bắt động vật rừng trái quy định của pháp luật; 11 - Các hoạt động liên quan đến phòng cháy, chữa cháy rừng, phòng trừ sâu bệnh hại rừng, các hoạt động cứu hộ động vật hoang dã; - Các hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm các quy định của pháp luật trong lĩnh vực quản lý, BV&PTR; - Có kế hoạch trồng và phát triển rừng.
Đặc điểm bảo vệ và phát triển rừng Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng có những đặc điểm cơ bản sau đây: a) Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng do nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội thực hiện như các CQNN, CBCC, các chủ rừng, các cá nhân, tổ chức khác trong xã hội. Nghị quyết của Đảng khẳng định “Bảo vệ và phát triển rừng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị”. b) Bảo vệ và phát triển rừng phải được thực hiện thường xuyên và liên tục. Nếu như các hoạt động khác có thể thực hiện một lần thì hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải tiến hành thường xuyên và liên tục.
Nếu để chậm trễ có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. c) Bảo vệ và phát triển rừng được thực hiện thông qua nhiều hoạt động khác nhau như tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, xây dựng kế hoạch trồng rừng, kế hoạch phòng cháy rừng,… 1. Nguyên tắc bảo vệ và phát triển rừng Để hoạt động bảo vệ và phát triển rừng thực hiện đúng các quy định pháp luật cũng như đạt được các mục tiêu đề ra đòi hỏi hoạt động này phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định. Các nguyên tắc này sẽ định hướng cho hoạt động bảo vệ và phát triển rừng.
Các nguyên tắc bảo vệ và phát triển rừng được quy định tại Điều 9 Luật Bảo vệ và phát triển rừng, bao gồm: a) Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm phát triển bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát 12 triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước và địa phương; tuân theo quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định. b) Bảo vệ rừng là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm nguyên tắc quản lý rừng bền vững; kết hợp bảo vệ và phát triển rừng với khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả tài nguyên rừng; kết hợp chặt chẽ giữa trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng, làm giàu rừng với bảo vệ diện tích rừng hiện có; kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp và ngư nghiệp; đẩy mạnh trồng rừng kinh tế gắn với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản nhằm nâng cao giá trị sản phẩm rừng. c) Việc bảo vệ và phát triển rừng phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Việc giao, cho thuê, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng rừng và đất phải tuân theo các quy định của Luật này, Luật đất đai và các quy định khác của pháp luật có liên quan, bảo đảm ổn định lâu dài theo hướng xã hội hoá nghề rừng. d) Bảo đảm hài hoà lợi ích giữa Nhà nước với chủ rừng; giữa lợi ích kinh tế của rừng với lợi ích phòng hộ, bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên; giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; bảo đảm cho người làm nghề rừng sống chủ yếu bằng nghề rừng. e) Chủ rừng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng rừng theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật, không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của chủ rừng khác. Trong quá trình bảo vệ và phát triển rừng đòi hỏi các cơ quan nhà nước, các cá nhân, tổ chức phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc này.
Quản lý nhà nƣớc về bảo vệ và phát triển rừng ở cấp huyện 1. Khái niệm quản lý nhà nƣớc về bảo vệ và phát triển rừng a) Khái niệm quản lý nhà nƣớc 13 Theo giáo trình Luật hành chính Việt Nam, QLNN được hiểu theo hai phạm vi: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. QLNN hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ mọi hoạt động của nhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước[5], với cách hiểu này thì chủ thể của QLNN bao gồm cả 3 hệ thống cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp. QLNN hiểu theo nghĩa hẹp là hoạt động chấp hành hiến pháp, luật và điều hành trên cơ sở hiến pháp và các luật đó[5], với cách hiểu này thì chủ thể QLNN chỉ bao gồm các cơ quan hành chính nhà nước.
Theo giáo trình Lý luận hành chính nhà nước, QLNN được hiểu “là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật, chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội”[12]. QLNN được hiểu “là một dạng quản lý đặc biệt, do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện thông qua hệ thống các công cụ luật pháp và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức nhằm duy trì sự ổn định và phát triển bền vững toàn xã hội”[13]. b) Quản lý nhà nƣớc về BV và PT rừng trên địa bàn cấp huyện Từ cách tiếp cận về QLNN và hoạt động bảo vệ và phát triển rừng nói chung, có thể hiểu QLNN về bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn cấp huyện là sự tác động của các cơ quan QLNN, các cán bộ công chức có thẩm quyền lên các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng thông qua hệ thống các công cụ luật pháp và chính sách nhằm giúp cho hoạt động này diễn ra đúng quy định pháp luật, góp phần bảo vệ và phát triển rừng. Sự cần thiết của quản lý nhà nƣớc về bảo vệ và phát triển rừng ở cấp huyện 14 Rừng giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với cuộc sống của con người cũng như đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Vì vậy việc quản lý nhà nước đối với bảo vệ và phát triển rừng là vấn đề cấp thiết, đóng vai trò hết sức quan trọng.