Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Quản lý rừng Nhu cầu quản lý rừng đã có sự biến động theo thời gian nhằm đáp ứng nhu cầu của cộng đồng cư dân sống gần rừng cũng như thể chế của mỗi quốc gia.
Theo sự gia tăng dân số thế giới, đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp nhường chỗ cho đô thị hóa, sức ép lên tài nguyên rừng cũng ngày càng lớn để thỏa mãn như cầu đất sản xuất lương thực, lâm sản phục vụ tiêu dùng của con người. Vì vậy phương thức quản lý rừng cũng phải thay đổi theo nhằm hạn chế tác động tiêu cực của các vấn đề xã hội nảy sinh, cũng như đảm bảo cho tài nguyên rừng được bảo vệ, duy trì một cách bền vững. Việc quản lý rừng theo hướng chỉ biết lợi dụng khai thác gỗ một cách ồ ạt để đáp ứng mục tiêu lợi ích kinh tế như trước đây không còn phù hợp, làm tăng nguy cơ mất rừng. Như vậy tất yếu phải có phương thức quản lý rừng mới phù hợp hơn, đó là quản lý rừng bền vững: Đòi hỏi việc quản lý rừng phải đảm bảo lợi ích hài hòa cả 3 yếu tố, đó là kinh tế, xã hội và môi trường; và 3 yếu tố này phải được đảm bảo duy trì ở hiện tại và tương lai [48].
Chính vì trước đây con người chỉ chú trọng việc khai thác được nhiều gỗ và lâm sản khác, phá rừng để lấy đất sản xuất nông nghiệp, làm nương rẫy… nên diện tích rừng và chất lượng rừng bị suy giảm nghiêm trọng. Trước đây, quản lý rừng mang tính chất tập trung, chủ yếu do nhà nước thực hiện đã bộc lộ nhiều bất cập, không đem lại hiệu quả vì không có sự tham gia của người dân. Trong khi đó, một trong những nhân tố chính tác động trực tiếp cũng như chịu ảnh hưởng rõ rệt của rừng chính là người dân địa phương; vì vậy theo nhận thức mới, người ta thấy được vai trò, tầm quan trọng của người dân, cộng đồng dân cư trong việc tham gia quản lý tài nguyên rừng. Phương thức quản lý rừng cộng đồng xuất hiện đầu tiên ở Ấn Độ, dần dần biến thái thành các hình thức quản lý khau nhau, như lâm nghiệp trang trại, lâm nghiệp xã hội ở Nêpan, Thái Lan, Philippin,… [49].
Ở Nam Phi, tại Vườn quốc gia Richtersveld việc nghiên cứu tìm ra phương thức quản lý rừng cộng đồng dựa vào hương ước quản lý bảo vệ rừng, trong đó người dân cam kết bảo vệ đa dạng sinh học trên địa phận của mình, còn chính quyền và ban quản lý hỗ trợ Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 người dân xây dựng cơ sở hạ tầng và cải thiện các điều kiện kinh tế xã hội khác đã đóng góp rất tích cực cho việc thực hiện quản lý rừng tại Vườn quốc gia [58]. Sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua các chính sách về phát triển kinh tế, xã hội có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý rừng. Một trong những yếu tố quan trọng quyết định tới hiệu quả của công tác quản lý rừng đó là sự rõ ràng trong quyền sử dụng, sở hữu rừng và đất rừng đối với người dân. Một số nghiên cứu cho thấy các mối quan hệ truyền thống trong xã hội có vai trò quan trọng trong việc giải quyết những vấn đề về sở hữu, sử dụng tài nguyên (Laslo Pancel, 1993) [68].
Ở Trung Quốc, Chính phủ khuyến khích sự tham gia của người dân thông qua hệ thống hợp đồng quản lý đất (dẫn theo Vương Văn Quỳnh và cộng sự, 2000) [53]. Ngoài ra, thông qua các chính sách đất đai cũng đã giải quyết được vấn đề như thúc đẩy kinh tế, bình đẳng và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và sử dụng đất bền vững (Ulrich,1996) (dẫn theo Nguyễn Văn Hùng, 2002) [40]. Như vậy, với sự tác động của các bên liên quan trong đó nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc đề xuất hệ thống chính sách quản lý rừng cùng với mối quan hệ cộng đồng cư dân địa phương đã có những chuyển biến tích cực trong định hướng quản lý rừng và sử dụng đất bền vững. Sử dụng đất vùng phòng hộ Nhu cầu sử dụng đất của con người là rất lớn, trong khi đất nông nghiệp không thể mở rộng thì việc tác động, xâm lấn đến đất rừng phòng hộ là điều không thể tránh khỏi.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm sao việc sử dụng đất vùng phòng hộ đầu nguồn vừa mang lại hiệu quả kinh tế mà vẫn đảm bảo vai trò, chức năng phòng hộ đầu nguồn của rừng. Mô hình sử dụng đất đầu tiên là du canh, đất được phát quang để canh tác trong một thời gian ngắn (Conklin, 1957) (dẫn theo Bùi Đức Luân, 2010) [47]. Du canh còn đang được xem xét như một góc nhìn để quản lý tài nguyên rừng, trong đó có đất đai được luân canh nhằm khai thác năng lượng và vốn dinh dưỡng của hệ thực vật - đất của hiện trường canh tác (Mc Grath, 1987) (dẫn theo Nguyễn Văn Hùng, 2002) [40]. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng nhanh chóng về dân số thì chu kỳ bỏ hóa đất đai trong phương thức du canh ngày càng ngắn dần, con người bóc lột tiềm năng của đ ất mà không cung cấp trở lại nhằm duy trì tiềm năng sản xuất đó, mặt khác phương thức du canh dẫn theo hiện tượng phá rừng làm nương rẫy hậu quả là diện tích rừng bị suy giảm nhanh chóng, giảm độ che Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 phủ và tăng diện tích đất trống đồi núi trọc làm suy giảm nghiêm trọng vai trò phòng hộ môi trường của rừng.
Phát triển lên một bước nữa trong phương thức sử dụng đất là sự ra đời của phương thức Taungya. Phương thức Taungya được ra đời sau phương thức du canh ở vùng nhiệt đới (Blanford, 1958) (dẫn theo Bùi Đức Luân, 2010) [47]. Đây là phương thức được U. Pankle đề xuất năm 1806, theo đó đã trồng xen cây nông nghiệp ngắn ngày vào rừng Tếch (Tectona grandis) chưa khép tán.
Sau này, hệ thống Taungya cải tiến dần và được coi như là một hệ thống sử dụng đất có hiệu quả cả về kinh tế lẫn môi trường sinh thái trên thế giới (Nair, 1987) (dẫn theo Bùi Đức Luân, 2010) [47]. Một phương thức sử dụng đất khác được King (1977) đưa ra thay thế phương thức Taungya ở Myanmar trên điều kiện đất dốc đồi núi đó là phương thức canh tác nông lâm kết hợp. Đây là phương thức sử dụng đất hợp lý theo một hệ canh tác: Trồng cây nông nghiệp xen với cây lâm nghiệp và cây làm thức ăn gia súc trên cùng một khoảnh đất (Landgreen và T.Raintree, 1983; King, 1979; Hurley, 1983; Nair, 1989; Chun K. Tuy nhiên, ở mỗi nơi, mỗi châu lục việc áp dụng phương thức này có khác nhau, ví dụ: Châu Á, trồng xen cây nông nghiệp dưới tán rừng mới trồng trong mấy năm đầu; New Zealand và Australia, dưới dạng rừng và đồng cỏ; Châu Phi và Châu Mỹ la tinh, dưới dạng trồng xen rừng phòng hộ, cây lấy củi và cây nông nghiệp,.
Ngoài ra, mỗi quốc gia còn nghiên cứu và đề xuất các mô hình thích ứng riêng như: Ở Ấn Độ, phương thức sử dụng đất chủ yếu là mô hình trồng xen giữa các loài cây công nghiệp, lương thực, gỗ, tre nứa theo hệ thống nông lâm kết hợp được bố trí rất khoa học và chặt chẽ có xem xét đến điều kiện kinh tế xã hội cụ thể nơi gây trồng. Ở Inđônêxia, công ty Lâm nghiệp nhà nước chọn đất và hướng dẫn người dân trồng cây nông - lâm nghiệp, sau hai năm nông dân sử dụng sản phẩm nông nghiệp và bàn giao lại rừng cho Công ty, mô hình làng lâm nghiệp “Ladang” rất được chú ý (dẫn theo Bùi Đức Luân, 2010) [47]. Bên cạnh đó còn có hệ thống kỹ thuật canh tác trên đất dốc (SALT) nhằm sử dụng đất dốc bền vững của Trung tâm đời sống nông thôn Bapstit Mindanao - Philippines năm 1970 xây dựng gồm 4 mô hình tổng hợp về kỹ thuật canh tác nông nghiệp bền vững trên đất dốc, đó là mô hình SALT1, SALT2, SALT3, SALT4, đây là những mô hình tổng hợp dựa trên cơ sở các biện pháp bảo vệ đất với sản xuất lương thực - kỹ thuật canh tác nông nghiệp, Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 lâm nghiệp và chăn nuôi trên đất dốc [52]. Tóm lại, vấn đề quản lý rừng và sử dụng đất vùng phòng hộ đã được các tác giả đề cập, nghiên cứu từ rất sớm ở nhiều nơi trên thế giới.
Từ thực tiễn quản lý rừng, sử dụng đất theo hướng tập trung chủ yếu trong tay nhà nước không còn phù hợp với những vấn đề môi trường, xã hội nảy sinh trong những năm gần đây nên đã xuất hiện một số phương thức quản lý rừng, sử dụng đất mới hiệu quả hơn, phù hợp với thực tế. Kết quả những nghiên cứu trên góp phần tạo cơ sở khoa học và thực tiễn để tiếp tục thúc đẩy các nghiên cứu mới nhằm bổ sung, hoàn thiện các phương thức quản lý rừng, sử dụng đất tốt hơn. Ở Việt Nam Những năm qua, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng luôn nhận được sự quan tâm to lớn của Đảng và Nhà nước; nhiều cơ chế, chính sách được ban hành tạo thuận lợi cho công tác quản lý tài nguyên rừng, khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế trong công tác bảo vệ và phát triển rừng theo hướng quản lý rừng bền vững, như Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 quy định giao rừng, đất trồng rừng cho tổ chức, cá nhân để bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng ổn định, lâu dài; giao rừng và đất rừng phòng hộ [25], [26]; giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng [54]. Nhằm đẩy mạnh xã hội hoá công tác bảo vệ rừng, ngoài tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao rừng, Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định rõ thêm cộng đồng dân cư thôn, bản cũng trở thành đối tượng được giao rừng (Điều 29); quy định đối với việc quản lý rừng phòng hộ: Những khu rừng phòng hộ đầu nguồn tập trung có diện tích từ năm nghìn hecta trở lên hoặc có diện tích dưới năm nghìn hecta nhưng có tầm quan trọng về chức năng phòng hộ hoặc rừng phòng hộ ven biển quan trọng phải có Ban quản lý.
Ban quản lý khu rừng phòng hộ là tổ chức sự nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập theo quy chế quản lý rừng.