CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nhận thức chung về đồng quản lý Với hệ thống các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn đã được thành lập thì các hệ sinh thái, các loài động, thực vật quý hiếm, đặc hữu, được bảo vệ tốt hơn. Tuy nhiên, qua đánh giá các hoạt động quản lý bảo vệ hệ thống rừng đặc dụng cho thấy một trong những khó khăn của công tác quản lý hiện nay là chưa chủ động được sự tham gia quản lý, bảo vệ của các lực lượng trong xã hội như: Các tổ chức đoàn thể xã hội, các cá nhân. và cộng đồng sống ở trong hay gần khu rừng đặc dụng.
Kinh nghiệm của nhiều nước và thực tế cho thấy nếu thiếu sự tham gia tích cực của cộng đồng thì công tác quản lý bảo vệ các vườn quốc gia và Khu BTTN sẽ gặp nhiều trở ngại và khó thành công. Để góp phần xây dựng các giải pháp nhằm thu hút các đối tác, cộng đồng cùng tham gia quản lý, bảo vệ rừng ở các Vườn quốc gia, Khu BTTN, cho đến nay nhiều tác giả đã đưa ra khái niệm về đồng quản lý, trong đó có một số khái niệm như sau: Theo Rao và Geisler (1990), đưa ra định nghĩa đồng quản lý như sau: Đồng quản lý là sự chia sẻ việc ra quyết định giữa những người sử dụng tài nguyên địa phương với các nhà quản lý tài nguyên về chính sách sử dụng các vùng bảo vệ. Các đối tác cần hướng tới mối quan tâm chung là BTTN để trở thành đồng minh tự nguyện. Năm 1996, lần đầu tiên Borrini - Feyerabend đã đưa ra khái niệm đồng quản lý là tìm kiếm sự hợp tác, trong đó các bên liên quan cùng nhau thỏa thuận chia sẻ chức năng quản lý, quyền và nghĩa vụ trên một vùng lãnh thổ hoặc một khu vực tài nguyên với tình trạng bảo vệ.
Đến năm 2000, Borrini - Feyerabend tiếp tục đưa ra khái niệm đồng quản lý như là một dạng hợp tác trong đó hai hoặc nhiều đối tác xã hội hiệp thương với nhau xác định và thống nhất việc chia sẻ chức năng quản lý, quyền và trách nhiệm về một vùng, một lãnh thổ hoặc nguồn tài nguyên thiên nhiên được xác định. Cùng năm 1996, hai nhà khoa học khác là Wild và Mutebi đã đưa ra khái niệm: Đồng quản lý là một quá trình hợp tác giữa các cộng đồng địa phương với các tổ chức nhà nước trong việc sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên hoặc các tài sản khác. Các bên liên quan, nhà nước hay tư nhân, cùng nhau thông qua một hiệp thương xác định sự đóng góp của mỗi đối tác và kết quả là cùng nhau ký một hiệp ước phù hợp mà các đối tác chấp nhận được. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Andrew W.Ingle và cs (1999), lại có một định nghĩa khác: Đồng quản lý được coi như sự sắp xếp quản lý được thương lượng bởi nhiều đối tác liên quan, dựa trên cơ sở thiết lập quyền và quyền lợi, hoặc quyền hưởng lợi được nhà nước công nhận và hầu hết những người sử dụng tài nguyên chấp nhận được.
Quá trình đó được thể hiện trong việc chia sẻ quyền ra quyết định và kiểm soát việc sử dụng tài nguyên. Borrini – Feyerabend (2000), đưa ra khái niệm chung “Đồng quản lý như là một dạng hợp tác trong đó hai hoặc nhiều đối tác xã hội hiệp thương với nhau xác định và thống nhất việc chia sẻ chức năng quản lý về quyền và trách nhiệm về một vùng, một lãnh thổ hoặc nguồn tài nguyên thiên nhiên được xác định”. Đồng quản lý được xây dựng trên các luận điểm là: Tính đa dạng về chủ thể và hình thức quản lý tài nguyên; đồng quản lý trong kết hợp BTTN và phát triển bền vững. Trên cơ sở các khái niệm của các tác giả, qua quá trình nghiên cứu thảo luận, bước đầu có thể hiểu khái niệm về đồng quản lý tài nguyên rừng như sau: “Đồng quản lý là một quá trình tham gia của nhiều đối tác có cùng mối quan tâm đến tài nguyên rừng, trong đó trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn và quyền lợi của các đối tác được thỏa hiệp, thống nhất trên cơ sở khả năng, năng lực của từng đối tác và không trái với luật pháp Nhà nước hiện hành, Công ước Quốc tế nhà nước đang tham gia, nhằm đạt được mục tiêu chung là quản lý tài nguyên rừng Khu BTTN một cách tốt nhất, vừa thỏa mãn mục tiêu riêng của từng đối tác”.
Tính đa dạng về chủ thể và hình thức quản lý tài nguyên Theo Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, hiện nay nước ta có 8 chủ thể chính tham gia quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng, đó là: - Nhà nước là một chủ thể lớn nhất, có quyền quản lý và điều tiết vĩ mô về lĩnh vực lâm nghiệp. Quản lý nhà nước về lâm nghiệp (tài nguyên rừng) là một hình thức khẳng định chủ quyền của nhà nước đối với đất lâm nghiệp và tài nguyên rừng. Quản lý nhà nước điều tiết quản lý, sử dụng tài nguyên đáp ứng những mục tiêu tổng thể mang tính chất quốc gia. Quản lý nhà nước có thế mạnh về pháp luật, chính sách và tài chính.
Ngoài ra dưới sự quản lý, kiểm soát và điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì có các chủ thể sau được giao trách nhiệm quản lý và bảo vệ rừng. - Hệ thống các Ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ được Nhà nước giao rừng, giao đất để phát triển rừng với mục tiêu chính là BTTN, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của Quốc gia, nguồn gen động vật và thực vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh, phục vụ nghỉ ngơi và du lịch, bảo vệ môi trường. Là một tổ chức sự nghiệp của Nhà nước cho nên hệ thống này có thế mạnh về pháp lý và tài chính. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 - Hệ thống các tổ chức kinh tế được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất để phát triển rừng hoặc công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, nhận chuyển quyền sử dụng rừng, nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng.
Hệ thống này có thế mạnh được sự bảo lãnh của nhà nước về pháp lý, có thế mạnh về khoa học, công nghệ mới và thị trường, năng lực và tài chính. - Hộ gia đình, cá nhân trong nước được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất để phát triển rừng hoặc công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, nhận chuyển quyền sử dụng rừng, nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng. Mục tiêu chính của hình thức quản lý này là bảo vệ rừng và phát triển kinh tế gia đình và xã hội. Hộ gia đình và cá nhân có thế mạnh về lực lượng lao động dồi dào, ổn định tại chỗ và có những kiến thức bản địa trong bảo vệ và phát triển rừng.
- Hệ thống các đơn vị vũ trang nhân dân được Nhà nước giao rừng, giao đất để phát triển rừng. Hệ thống này có thế mạnh về thể chế, tài chính và nhân lực có tính tổ chức, kỷ luật cao. - Hệ thống các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đào tạo, dạy nghề về lâm nghiệp được Nhà nước giao rừng, giao đất để phát triển rừng. Hệ thống này có thế mạnh về khoa học, công nghệ mới và thị trường, năng lực và tài chính.
- Hệ thống các tổ chức, cá nhân người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân người nước ngoài đầu tư tại Việt Nam được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, cho thuê đất để phát triển rừng. Hệ thống này có thế mạnh về khoa học, công nghệ mới và thị trường, năng lực và tài chính. - Cộng đồng dân cư thôn, bản được Nhà nước giao rừng, giao đất để phát triển rừng. Cộng đồng quản lý tài nguyên có thế mạnh về tính tổ chức, thể chế, tính tự nguyện, sự ổn định tại chỗ và những kiến thức bản địa.
Trên một đơn vị tài nguyên không chỉ tồn tại một hình thức quản lý mà tồn tại nhiều hình thức. Vấn đề đặt ra là các hình thức này hợp tác với nhau như thế nào? Làm thế nào để giải quyết hài hòa mục tiêu, lợi ích của các hình thức quản lý tài nguyên? Để đạt được sự công bằng đối với các chủ thể quản lý, đạt được các mục tiêu tổng thể cũng như cụ thể của từng đối tượng thì đồng quản lý sẽ là một phương thức thích hợp và hiệu quả. Trong thực tế, Nhà nước quản lý toàn bộ tài nguyên trên lãnh thổ quốc gia, trên cơ sở chia sẻ với các chủ thể quản lý tài nguyên khác trong xã hội. Hợp tác quản lý sẽ phát huy được những thế mạnh của các chủ thể, đặc biệt là cộng đồng dân cư là những người trực tiếp tiếp cận với các nguồn tài nguyên và có những hiểu biết về chúng.
Trên Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 cơ sở hợp tác quản lý sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp đảm bảo cho sự thành công của công tác quản lý tài nguyên. Đồng quản lý trong kết hợp bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền vững Đồng quản lý giải quyết được mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển: Nhà nước có chiến lược bảo tồn và thường nảy sinh mâu thuẫn với các cộng đồng địa phương đang sử dụng tài nguyên phục vụ đời sống, giữa cộng đồng và quốc gia sẽ đồng nhất trong mục tiêu bảo tồn và phát triển nếu như tiến tới thỏa thuận về một phương thức đồng quản lý. Bảo tồn và phát triển là hai mặt đối lập thống nhất, tài nguyên thiên nhiên là nguồn nguyên liệu cần thiết đối với phát triển kinh tế xã hội. Để phát triển, con người đã không ngừng khai thác các nguồn tài nguyên này, nên BTTN sẽ mâu thuẫn với phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, nếu khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ gây ảnh hưởng và tạo ra sự bất ổn cho phát triển cả về kinh tế và các mặt xã hội khác. Chính vì vậy con người cần phải bảo tồn, tái tạo các nguồn tài nguyên bảo hộ cho sự phát triển ổn định lâu dài.