ĐẶT VẤN ĐỀ Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền đời sống của nhân dân và sự sống còn của dân tộc”. Hồ Chủ Tịch lúc sinh thời đã từng căn dặn: “Rừng là vàng, nếu mình biết bảo vệ và xây dựng thì rừng rất quý” nó trở thành phương châm bảo vệ rừng hiện nay. Trong những năm gần đây diện tích rừng của nước ta càng bị thu hẹp, chất lượng rừng và tính đa dạng sinh học ngày càng giảm, độ che phủ thấp, khả năng phòng hộ kém. Có rất nhiều nguyên nhân làm cho tài nguyên rừng nước ta cạn kiệt, đó là: Bị tàn phá trong chiến tranh, việc khai thác lợi dụng rừng không có kế hoạch của nhà nước và người dân, nạn đốt rừng làm nương rẫy, du canh du cư tự do, thiên tai, … làm giảm nhanh về số lượng và chất lượng rừng (IUCN Việt Nam, 2000).
Giao đất, giao rừng là chủ trương của Đảng và Nhà nước về phân cấp, phân quyền trong quản lý tài nguyên rừng (Trần Đức Viên và cộng sự, 2005). Nhằm thực hiện chủ trường này, trong những năm qua rừng và đất rừng được giao cho các tổ chức kinh tế, các ban quản lý rừng, các đơn vị vũ trang, các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, và các tổ chức khác quản lý, sử dụng là 11.729 ha, đạt 78,3% tổng diện tích rừng hiện có (Bộ NNPTNT, 2016). Quy mô diện tích của công tác giao đất, giao rừng được thực hiện theo hướng giảm dần đối với các doanh nghiệp nhà nước và tăng dần cho đối tượng hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sống gần rừng. Điều này cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về vai trò, vị trí của người dân và cộng đồng dân cư sống gần rừng là hết sức quan trọng trong công cuộc bảo vệ và phát triển rừng bền vững cũng như góp phần vào sự phát triển nền kinh tế xã hội của nông thôn, miền núi.
Ngày nay, quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ) đã và đang trở thành một trong những phương thức quản lý rừng phổ biến ở Việt Nam. Hiện nay Nhà nước ta đã có rất nhiều văn bản pháp lý để hợp pháp hóa vấn đề QLRCĐ, như: Luật Đất đai, Luật Bảo vệ Phát triển rừng, các quyết định và thông tư hướng dẫn cho vấn đề giao đất, giao rừng và QLRCĐ. Trong những năm qua, nhiều chương trình, dự án về QLRCĐ được triển khai thực hiện trên khắp cả nước đã mang lại một số hiệu quả nhất định. Phong Điền là huyện nằm ở cửa ngõ phía Bắc của tỉnh Thừa Thiên Huế, rộng 953,751 km2 gần bằng 1/5 diện tích tự nhiên của tỉnh.
Đến nay trên địa bàn huyện Phong Điền đã hoàn tất công tác giao rừng tự nhiên cho các cộng đồng dân cư thôn, bản để quản lý. Tổng diện tích rừng đã được giao là 3.358,9 ha cho 13 cộng đồng dân cư thôn, bản thuộc 03 xã Phong Sơn, Phong Xuân và Phong Mỹ. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 2 Qua quá trình hơn bốn năm triển khai thực hiện mô hình giao rừng cho cộng đồng dân cư quản lý, bảo vệ vẫn còn một số tồn tại, bất cập. Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá hiệu quả mô hình QLRCĐ là rất cần thiết, nghiên cứu này làm cơ sở đúc kết kinh nghiệm cho việc giao rừng gắn với giao đất cho cộng đồng dân cư quản lý, bảo vệ rừng bền vững và hiệu quả hơn.
Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý rừng cộng đồng bền vững ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế”. MỤC ĐÍCH/MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1. Mục tiêu chung Đánh giá hiệu quả của công tác quản lý rừng cộng đồng ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế nhằm đúc kết kinh nghiệm, đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR) bền vững để áp dụng cho công tác QLRCĐ tại địa phương. Mục tiêu cụ thể Đánh giá được thực trạng QLRCĐ (Cấu trúc quản lý, các bên liên quan, sự tham gia của cộng đồng, cơ chế chia sẽ lợi ích, quản lý mâu thuẫn).
Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình QLBVR. Đánh giá được tác động của công tác QLRCĐ đến đời sống của người dân địa phương về các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường. Đề xuất được một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả và tính bền vững trong QLRCĐ. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1.
Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp vào phương pháp luận trong công tác giao rừng cho cộng đồng dân cư phù hợp với tình hình thực tế trên địa bàn huyện Phong Điền. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong giao rừng cho cộng đồng dân cư trên địa bàn nghiên cứu; kết quả đánh giá hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường sẽ là những nguồn dữ liệu có giá trị tham khảo cao cho các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành hoạch định các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác QLRCĐ trên địa bàn của huyện. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 3 PHẦN 2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG 2. Các khái niệm liên quan đến quản lý rừng cộng đồng 2. Khái niệm về rừng Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu. Theo Điều 3 của Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng, và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên.
Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Khái niệm về Cộng đồng - Thuật ngữ cộng đồng (Community) được định nghĩa: “Một nhóm người sống trên cùng một khu vực và thường cùng nhau chia sẻ các mục tiêu chung, các luật lệ xã hội chung và/ hoặc có quan hệ gia đình/ xã hội với nhau” (Bùi Việt Hải, 2007). - Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013). - Cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2004).
- Làng cổ truyền là đơn vị xã hội cao nhất trong xã hội Chăm, Bana, Thái là cộng đồng của những người có quan hệ huyết thống hay khác huyết thống cùng sinh sống làm ăn trong một phạm vi nhất định (Nguyễn Xuân Hồng và cộng sự, 2000). Khái niệm về Rừng cộng đồng Rừng cộng đồng đã có và tồn tại từ bao đời nay, nhưng về phương diện khoa học thì mới được các nhà khoa học nhận diện đầu tiên vào những năm đầu thập kỷ 70, từ đó khái niệm rừng cộng đồng (Community forest_CF) cũng xuất hiện. Rừng cộng đồng là rừng của thôn đã quản lý theo truyền thống trước đây mà khi chuyển đổi hoặc giải thể, hợp tác xã đã giao lại cho xã hoặc các thôn quản lý, sử dụng và hưởng lợi từ khu rừng đó. Để nhận biết đâu là rừng cộng đồng, ở nơi nào có rừng cộng đồng và xây dựng các khái niệm, phương thức liên quan đến QLRCĐ (Community forest managenent_CFM) cần phải có khái niệm rõ ràng về rừng cộng động.
Rừng cộng đồng là một khái niệm cần làm rõ nội dung sau: Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 - Về quyền sở hữu: Theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng thì các tổ chức và cá nhân được nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất cho thuê đất để phát triển rừng. Nhà nước thống nhất quản lý và định đoạt đối với rừng tự nhiên và rừng được phát triển với vốn nhà nước, rừng do nhà nước nhận chuyển quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng từ các chủ rừng, động vật rừng hoang dã, vi sinh vật rừng, cảnh quan môi trường rừng. Rừng trồng thuộc sở hữu của người đã đầu tư công sức để trồng nên khu rừng đó. - Về quyền sử dụng rừng và đất lâm nghiệp: Chủ rừng được đăng ký quyền sử dụng rừng là rừng trồng.
Chủ rừng được thực hiện những hành vi nhất định để quản lý, sử dụng, khai thác những lợi ích của rừng và đất lâm nghiệp được giao hay được khoán bảo vệ. - Về quyền định đoạt: Về đất lâm nghiệp tất nhiên thuộc về nhà nước vì đất thuộc sở hữu của nhà nước, nhưng quyền định đoạt rừng cây tùy thuộc vào quyền sở hữu rừng cây của cộng đồng. - Về quyền hưởng lợi: Cộng đồng được hưởng lợi từ rừng và đất lâm nghiệp đúng như quy định của nhà nước. Đối với rừng do cộng đồng nhận khoán bảo vệ từ các tổ chức thì quyền hưởng lợi của cộng đồng được hưởng theo quy định của hợp đồng khoán.
Tóm lại, rừng cộng đồng là những khu rừng mà chủ thể quản lý rừng là cộng đồng có nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng như một chủ rừng thực sự. Khái niệm về Lâm nghiệp cộng đồng Lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ) là những hoạt động không chỉ giới hạn trong việc trồng cây rừng ở trang trại, khu nhà ở hay ven đường, mà còn đề cập đến cả tập quán du canh, việc sử dụng và quản lý rừng tự nhiên, cung cấp các sản phẩm lâm sản từ rừng tự nhiên, từ rừng trồng hay nông lâm kết hợp. LNCĐ cũng đề cập đến việc xác định nhu cầu của địa phương, tăng cường quản lý sử dụng các sản phẩm lâm nghiệp để cải thiện mức sống của người dân theo một phương thức bền vững, đặc biệt là cải thiện điều kiện sống cho người nghèo (FAO, 2000). Theo Arnold 1992, định nghĩa tổng quát về LNCĐ, hiểu một cách chính xác và thiết thực nhất thì LNCĐ là một thuật ngữ bao trùm hàng loạt các hoạt động gắn kết người dân nông thôn với cây và rừng cũng như các sản phẩm và lợi ích thu được từ rừng trồng và rừng tự nhiên.