phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng cơ chế tự chủ tài chính tại Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 4 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Tổng quan về các kết quả nghiên cứu về tự chủ tài chính 1. Giới thiệu các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Vì tầm quan trọng của thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp có thu, nên đã có nhiều luận văn, luận án, bài báo khoa học viết về đề tài này. Có thể kể đến một số công trình sau: - Luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Trung tâm Hƣớng nghiệp và Giáo dục thƣờng xuyên tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Chu Hà Tịnh bảo vệ năm 2013 thuộc trƣờng Đại học kinh tế Quốc dân.
- Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính của Đài truyền hình Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Nam bảo vệ năm 2008 thuộc trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân. - Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện cơ chế tự chủ về tài chính ở trƣờng Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà” của tác giả Ngô Thúy Nga bảo vệ năm 2013 thuộc trƣờng Đại học Thái Nguyên. - Luận văn thạc sỹ “Thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại Trung tâm y tế thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Vũ Thị Thúy Hằng bảo vệ năm 2013 thuộc trƣờng Đại học Thái Nguyên. - Bài báo “Tự chủ đại học qua nghiên cứu tình huống Học viện” của PGS.
Hoàng Trần Hậu đƣợc đăng trên trang web: http://www. Đánh giá về các công trình nghiên cứu Nhìn chung các công trình nghiên cứu kể trên đều nói đến tầm quan trọng của việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu trong thời kỳ hội nhập và các giải pháp để thúc đẩy công tác thực hiện cơ chế tự chủ tài chính. Tuy nhiên do mục tiêu, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của mỗi đề tài, 5 z quan điểm của mỗi tác giả là khác nhau nên tác giả nhận thấy các công trình nghiên cứu trên có nhiều ƣu điểm cũng nhƣ còn một số tồn tại. - Luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Trung tâm Hướng nghiệp và Giáo dục thường xuyên tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Chu Hà Tịnh bảo vệ năm 2013.
Về cơ bản, luận văn đã phân tích đánh giá tình hình hoạt động và thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại đơn vị, từ đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm thực hiện để đi đến hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại đơn vị. Tuy nhiên nguồn thu của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam và Trung tâm hƣớng nghiệp và giáo dục thƣờng xuyên Quảng Ninh khác nhau nên khía cạnh đứng trên các góc độ phân tích sẽ khác rất nhiều khi phân tích tình hình thực trạng thực hiện nhiệm vụ và đề xuất các giải pháp cụ thể. - Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính của Đài truyền hình Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Nam bảo vệ năm 2008. Tác giả đã phân tích rất rõ các nguồn thu sự nghiệp của đơn vị, chi tiết đến từng bộ phận của Đài truyền hình từ đó đƣa ra các giải pháp tăng thu sự nghiệp cho đơn vị.
Tuy nhiên, đề tài chƣa đi sâu vào chi thƣờng xuyên và thu nhập tăng thêm của cán cán bộ của đơn vị để đề xuất ra các giải pháp tiết kiệm chi phí thƣờng xuyên, tăng thu nhập tăng thêm cho ngƣời lao động. - Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện cơ chế tự chủ về tài chính ở trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà” của tác giả Ngô Thúy Nga bảo vệ năm 2013. Đề tài đã phân tích đƣợc đúng thực trạng thực hiện các nguồn thu và nhiệm vụ chi của đơn vị, từ đó đề xuất đƣợc các giải pháp và các kiến nghị đến từng đơn vị cụ thể. Tuy nhiên, mô hình hoạt động, nguồn thu và nhiệm vụ chi của Trƣờng cao đẳng Bắc Hà khác hoàn toàn với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam nên khi phân tích thực hiện cơ chế tự chủ tài chính không có sự trùng lặp.
- Luận văn thạc sỹ “Thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại Trung tâm y tế thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Vũ Thị Thúy Hằng bảo vệ năm 2013. Đề tài đã nêu rất rõ định hƣớng phát triển mạng lƣới khám chữa bệnh và phòng chống dịch bệnh và quan điểm định hƣớng thực hiện cơ chế tự chủ tài 6 z chính tại trung tâm y tế tuy nhiên đề tài chƣa nêu rõ đƣợc các giải pháp cụ thể để thực hiện, các kiến nghị vẫn còn chung chung, chƣa chi tiết cụ thể từng kiến nghị đến ai, cơ quan nào. - Bài báo “Tự chủ đại học qua nghiên cứu tình huống Học viện” của PGS. Hoàng Trần Hậu, bài báo đã khẳng định rất rõ tầm quan trọng của thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các trƣờng đại học.
Tuy nhiên, đối tƣợng nghiên cứu của bài báo chỉ dừng lại ở các trƣờng đại học, chƣa mở rộng ra đối với tất cả các đơn vị sự nghiệp có thu. Những đóng góp mới của đề tài: 1. Những điểm giống nhau: Mang tính kế thừa và phát huy luận văn “Cơ chế tự chủ tài chính tại Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam” cũng có những điểm giống của mộ số luận văn của các tác giả gần đây: - Khung lý thuyết về Cơ chế tự chủ tài chính không nhiều thay đổi so với các luận văn thạc sỹ, các bài báo, nghiên cứu khoa học đã từng xuất hiện trƣớc đây. - Luận văn đã đánh giá đƣợc thực trạng thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị nhƣ: về nguồn thu và nhiệm vụ chi.
Từ đó đƣa ra các giải pháp, kiến nghị để thúc đẩy công tác thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại đơn vị. - Luận văn nghiên cứu trong một khoảng thời gian tƣơng đối phổ biến là 3 năm nên có những đánh giá sát thực về xu hƣớng, cơ hội và thách thức cập nhập thời đại bây giờ. Những đóng góp mới của đề tài: Mặc dù luận văn “Cơ chế tự chủ tài chính tại Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam” có những kế thừa của các đề tài nghiên cứu đã qua, tuy nhiên luận văn cũng có những điểm mới nhƣ sau: - Nội dung chính của đề tài là thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, vì vậy tác giả tập trung phân tích sâu thu sự nghiệp và chi sự nghiệp, từ đó phân tích các 7 z hạn chế và nguyên nhân dẫn đến thực hiện cơ chế tự chủ tại đơn vị chƣa tốt để đƣa ra các giải pháp cụ thể. - Các kiến nghị của luận văn rất chi tiết, đề xuất kiến nghị từ cơ quan quản lý nhà nƣớc cao nhất là quốc hội đến ban lãnh đạo của đơn vị.
- Đề tài đã tiếp cận đến nghị định 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ về Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập. Những vấn đề cơ bản về đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động sự nghiệp 1. Khái niệm hoạt động sự nghiệp Hoạt động sự nghiệp là những hoạt động không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, nhƣng nó tác động trực tiếp đến lực lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất, có tính quyết định năng suất lao động xã hội.
Những đặc điểm cơ bản của hoạt động sự nghiệp - Hoạt động sự nghiệp gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần, - Hoạt động sự nghiệp không nhằm mục đích thu lợi nhuận trực tiếp. - Hoạt động sự nghiệp luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chƣơng trình phát triển kinh tế xã hội của Nhà nƣớc. Khái niệm, đặc điểm và phân loại Đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp (ĐVSN) công lập là những đơn vị sự nghiệp đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập, có tƣ cách pháp nhân, có tài khoản, con dấu riêng để thực hiện các hoạt động sự nghiệp nhằm cung cấp các dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, y tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, các nghiên cứu khoa học. Trong quá trình hoạt động các ĐVSN công lập đƣợc nhà nƣớc tạo lập nguồn thu thông qua các khoản thu nhƣ: thu phí, lệ phí, các khoản viện trợ hay khoản thu từ các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ để bù đắp một phần hay toàn bộ chi phí thƣờng xuyên.
8 z Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập: - Đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền thành lập. Đƣợc nhà nƣớc đầu tƣ cơ sở vật chất, đảm bảo một phần hay toàn bộ chi phí hoạt động thƣờng xuyên thực hiện nhiệm vụ do nhà nƣớc giao. Đơn vị sự nghiệp công lập có thể do Thủ tƣớng Chính phủ, Bộ trƣởng hoặc Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng trực tiếp ra quyết định thành lập. Cơ sở vật chất đƣợc đầu tƣ bằng nguồn vốn NSNN, hàng năm đƣợc nhà nƣớc cấp kinh phí để bù đắp một phần hay toàn bộ, thực hiện chức năng nhiệm vụ do các cấp có thẩm quyền nhà nƣớc giao.
- Đơn vị sự nghiệp có tƣ cách pháp nhân theo quy định của pháp luật: đƣợc nhà nƣớc thành lập, có trụ ở riêng, có tên gọi riêng, có con dấu riêng, có tài khoản riêng và đảm bảo trƣớc pháp luật về hoạt động của mình. - Đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích lợi nhuận. Đây là đặc điểm khác biệt giữa đơn vị sự nghiệp công lập với các cơ sở hoạt động kinh tế của các chủ thể khác trong xã hội. Đặc điểm này xuất phát từ chức năng nhiệm vụ của nhà nƣớc phải cung ứng hàng hoá công cộng cho xã hội thông qua các cơ quan hành chính sự nghiệp của nhà nƣớc.