Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu cấu trúc rừng khu phục hồi sinh thái thuộc khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng" được thực hiện bởi sinh viên Lãnh Quang Kiến (ngành Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2020) dưới sự hướng dẫn của PGS. Trần Quốc Hưng.

Về bối cảnh thực tiễn, năm 2002, Tổ chức Bảo tồn Động thực vật hoang dã quốc tế (Fauna & Flora International - FFI) đã tái phát hiện một quần thể Vượn đen Đông Bắc (tên khoa học: Nomascus nasutus, thường gọi là Vượn Cao Vít) tại khu vực rừng núi đá giáp ranh biên giới Việt Nam - Trung Quốc thuộc huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Đến tháng 9/2004, kết quả khảo sát của FFI ghi nhận đàn vượn có 37 cá thể. Trước khi thành lập khu bảo tồn, khu vực này chịu áp lực lớn từ nạn săn bắn và khai thác gỗ, củi bừa bãi, làm suy thoái nghiêm trọng nơi cư trú của loài. Tháng 5/2007, Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng đã ban hành quyết định thành lập Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít với diện tích bảo vệ trực tiếp là 1.656,8 ha, bao gồm:

  • Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 975,8 ha (chiếm 59% diện tích khu bảo tồn).
  • Phân khu phục hồi sinh thái: 681 ha (chiếm 41% diện tích khu bảo tồn).
  • Vùng đệm của khu bảo tồn: trên 6.000 ha.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Đánh giá hiện trạng cấu trúc rừng tầng cây cao và tầng cây tái sinh tại phân khu phục hồi sinh thái thuộc Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít.
  2. Đánh giá thành phần các loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm và các loài cây cung cấp thức ăn cho Vượn Cao Vít tại phân khu phục hồi sinh thái.
  3. Đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh và quản lý bảo vệ rừng nhằm duy trì, mở rộng sinh cảnh sống cho loài Vượn Cao Vít.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cấu trúc tầng cây cao, tầng cây tái sinh và thành phần thực vật làm thức ăn cho Vượn Cao Vít tại trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy.
  • Phạm vi không gian: Phân khu phục hồi sinh thái thuộc địa bàn 3 xã phía Bắc của huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng (xã Ngọc Khê, Phong Nậm và Ngọc Côn), nằm trong tọa độ địa lý từ 22°53' đến 22°56,4' Vĩ độ Bắc và 106°30' đến 106°33' Kinh độ Đông.
  • Phạm vi thời gian: Điều tra thực địa và thu thập số liệu tiến hành từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, tác giả tổng quan hệ thống các nghiên cứu về cấu trúc rừng trên thế giới và tại Việt Nam. Về mặt sinh thái học, cấu trúc rừng tự nhiên phản ánh mối quan hệ qua lại giữa các loài thực vật và hoàn cảnh lập địa, phân chia thành cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian (Richards, 1952; UNESCO, 1973; Trần Ngũ Phương, 1970; Thái Văn Trừng, 1978). Tác giả vận dụng các nghiên cứu định lượng về phân tầng và phân bố mật độ, đường kính của Nguyễn Văn Trương (1983), Đào Công Khanh (1996), cùng các mô hình phân bố lý thuyết (Weibull, Poisson) của Balley (1973), Nguyễn Hải Tuất (1982, 1986). Cơ sở pháp lý và văn bản quy phạm áp dụng bao gồm Nghị định số 22/CP (1995), Nghị định số 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ, Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ IUCN (2001) và Quy phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung QPN 21-98 (kèm theo Quyết định số 175/1998/QĐ-BNN-KHCN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa ngoại nghiệp điều tra thực địa và nội nghiệp xử lý thống kê:

  • Phương pháp lập ô tiêu chuẩn (OTC): Thiết lập 07 ô tiêu chuẩn tại các khu vực phục hồi sau nương rẫy đại diện theo tọa độ đã định vị trước đây, tránh dông và khe núi, khoảng cách giữa các ô tối thiểu 500 m. Diện tích mỗi OTC là 500 m² (kích thước 10 m x 50 m). Trên trục đường trung tâm của mỗi OTC, cứ cách 10 m bố trí một tiểu ô (ô dạng bản) kích thước 2 m x 2 m (diện tích 4 m²) so le hai bên để điều tra tầng cây tái sinh.
  • Đo đếm chỉ tiêu lâm sinh:
    • Tầng cây cao: Đo toàn bộ cây thân gỗ có đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) $\ge$ 5 cm bằng thước kẹp kính theo hai hướng trực giao (Đông - Tây và Nam - Bắc) lấy giá trị trung bình; chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) đo bằng thước đo cao CGQ-1.
    • Tầng cây tái sinh: Đo đếm các cây có $D_{1.3}$ < 5 cm và cây bụi trong tiểu ô; đo chiều cao bằng thước sào; đánh giá chất lượng cây theo 3 cấp (Tốt, Trung bình, Xấu); xác định nguồn gốc tái sinh (từ hạt hoặc chồi) và xác định cây triển vọng (cây tốt, trung bình có chiều cao $\ge$ 1,0 m).
  • Phương pháp phân tích số liệu nội nghiệp:
    • Xác định tỷ lệ tổ thành tầng cây cao theo phương pháp của Daniel Marmillod: $IV_i% = (N_i% + G_i%) / 2$, trong đó $N_i%$ là tỷ lệ số cá thể loài $i$, $G_i%$ là tỷ lệ tiết diện ngang ($G = \pi \times D^2 / 4$) của loài $i$. Loài có $IV_i% \ge 5%$ được tham gia vào công thức tổ thành; nhóm ưu thế chiếm $\ge 50%$ tổng $IV%$.
    • Mật độ cây ($N/ha$) tính theo công thức: $N/ha = (n / S) \times 10.000$ ($S$ là diện tích ô).
    • Tỷ lệ tổ thành cây tái sinh tính theo tỷ lệ phần trăm số cây ($n_i% = n_i / m \times 100$); loài có $n_i \ge 5%$ tham gia công thức tổ thành với hệ số $K_i = (n_i / m) \times 10$.
    • Toàn bộ dữ liệu được tổng hợp và tính toán bằng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc bảo tồn quần thể Vượn Cao Vít - loài linh trưởng đặc hữu nguy cấp toàn cầu tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Do áp lực canh tác nương rẫy và khai thác lâm sản trong quá khứ, sinh cảnh của loài bị chia cắt. Việc phục hồi diện tích 681 ha rừng trong phân khu phục hồi sinh thái là yêu cầu cấp thiết để mở rộng hành lang sinh cảnh và nguồn thức ăn cho đàn vượn. Từ đó, tác giả xác định mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài trong việc cung cấp cứ liệu lâm sinh cho công tác quản trị khu bảo tồn.

Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này tổng kết các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về cấu trúc rừng tự nhiên và diễn thế rừng phục hồi sau nương rẫy; hệ thống hóa các phương pháp nghiên cứu cấu trúc tầng thứ, tổ thành loài và mô hình hóa toán học cấu trúc mật độ, đường kính. Đồng thời, tác giả mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu:

  • Vị trí địa lý: Thuộc 3 xã Ngọc Khê, Phong Nậm, Ngọc Côn (Bắc Trùng Khánh), phía Tây giáp Trung Quốc.
  • Khí hậu: Nhiệt đới và á nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ bình quân năm 19,8°C (thấp nhất -3°C, cao nhất 36,3°C); lượng mưa bình quân 1.665,5 mm, tập trung vào tháng 6, 7, 8; độ ẩm bình quân 81%.
  • Thủy văn: Hai nhánh chính của sông Quây Sơn chảy qua địa bàn và gặp nhau tại Giàng Nốc; có các mạch nước ngầm tầng sâu (Lũng Đáy, Giộc Sâu, Lũng Đắc) và tầng nông (Lũng Nậm).
  • Địa hình và thổ nhưỡng: Cảnh quan karst núi đá vôi cổ (Palêôzôi muộn và Mêzôzôi sớm) có độ dốc lớn, vách dựng đứng, độ cao phổ biến 500 - 800 m, đỉnh cao nhất 921 m; đất đai gồm 7 nhóm chính (đất phù sa, đất đỏ nâu trên đá vôi, đất thung lũng, đất đỏ nâu vàng trên núi đá vôi, đất đỏ vàng trên phiến sét, đất vàng nhạt trên sa thạch).

Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Tác giả xác lập khung nội dung nghiên cứu gồm 4 phần: đánh giá hiện trạng tài nguyên và công tác quản lý bảo vệ rừng tại khu bảo tồn; nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây cao; nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây tái sinh; đề xuất giải pháp kỹ thuật và quản lý. Phương pháp nghiên cứu quy định cụ thể quy cách lập 07 OTC kích thước 10 m x 50 m, hệ thống 5 tiểu ô 2 m x 2 m trong mỗi OTC, các tiêu chuẩn đo đếm đường kính, chiều cao, phân loại chất lượng cây tái sinh và các công thức toán học tính toán mật độ, tiết diện ngang, chỉ số $IV%$, hệ số tổ thành.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Đây là nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện các phát hiện nghiên cứu qua điều tra thực nghiệm:

  • Hiện trạng tài nguyên thực vật: Xác định được 104 loài thực vật có mạch thuộc 86 chi, 51 họ của 2 ngành (Dương xỉ và Hạt kín). Ngành Hạt kín chiếm ưu thế tuyệt đối với 96,15% tổng số loài. Ghi nhận 2 loài cây gỗ nguy cấp, quý, hiếm thuộc Nhóm IIA theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP: Nghiến (Burretiodendron hsienmu) và Trai lý (Garcinia fagraeoides).
  • Nguồn thức ăn của Vượn Cao Vít: Toàn khu bảo tồn có 62 loài thực vật làm thức ăn cho vượn. Riêng tại phân khu phục hồi sinh thái đã thống kê được 09 loài thuộc 7 họ cung cấp lá, hoa, quả cho vượn (Thích lá xẻ, Xoan nhừ, Khỉ bể, Nhọc lá to, Mạy khảo, Dướng, Sung, Xoan đào, Nghiến).
  • Thực trạng quản lý bảo vệ rừng: Ban Quản lý đã triển khai 32 cuộc họp tuyên truyền với 796 lượt người nghe; phối hợp tuần tra biên giới và nội vùng 36 cuộc với 206 lượt người; tổ tuần rừng cộng đồng thực hiện 286 - 312 lượt tuần tra trên 13 tuyến. Thống kê cháy rừng giai đoạn 2015 - 2017: năm 2015 xảy ra 3 vụ (thiệt hại 2,04 ha rừng trồng), năm 2016 xảy ra 2 vụ (thiệt hại 2,2 ha), năm 2017 xảy ra 2 vụ (thiệt hại 4,11 ha). Xử lý vi phạm hành chính về săn bẫy, bảo vệ rừng: năm 2016 lập biên bản 1 vụ (phạt 800.000 đồng), năm 2017 lập biên bản 2 vụ (phạt 1.000.000 đồng), năm 2018 lập biên bản 1 vụ (phạt 2.000.000 đồng).
  • Cấu trúc tầng cây cao: Tùy mức độ tác động của nương rẫy trước đây, mật độ tầng cây cao dao động từ 220 đến 880 cây/ha. Số loài tham gia công thức tổ thành từ 6 đến 11 loài. Cây quý hiếm như Trai lý, Nghiến đã tham gia vào công thức tổ thành tại các OTC 1, OTC 4 và OTC 5.
  • Cấu trúc tầng cây tái sinh: Mật độ dao động từ 300 đến 740 cây/ha. Nguồn gốc tái sinh chủ yếu từ hạt (81,25% - 94,59% ở 6/7 ô tiêu chuẩn). Tỷ lệ cây tái sinh chất lượng tốt đạt 100% tại OTC 4, OTC 6 và OTC 7; tỷ lệ cây tái sinh triển vọng dao động từ 2,7% đến 70,3%.
  • Giải pháp đề xuất: Đề xuất các biện pháp kỹ thuật trồng giặm theo đường băng zích zắc trên núi đá vôi (theo QPN 21-98) với mật độ 300 - 400 cây/ha hoặc 2.000 cây/ha tại trảng cỏ, nương rẫy thoái hóa; lựa chọn cây bản địa ưa sáng mọc nhanh ở giai đoạn đầu và cây chịu bóng, gỗ quý, cây thức ăn ở giai đoạn sau; kết hợp khoanh nuôi bảo vệ 5 - 8 năm đạt độ tàn che $\ge$ 0,6 và các chính sách hỗ trợ sinh kế, cấp nước sinh hoạt, bếp tiết kiệm củi cho cộng đồng.

Phần 5: Kết luận, tồn tại và kiến nghị

Tác giả tóm lược các kết quả chính về diện tích khu bảo tồn (1.656,8 ha), cơ cấu các phân khu chức năng, mức độ đa dạng thực vật và dấu hiệu phục hồi tích cực qua sự xuất hiện của các loài cây gỗ quý trong công thức tổ thành tầng cây cao và cây tái sinh; đồng thời nêu kiến nghị về việc duy trì tuần tra bảo vệ nghiêm ngặt và hỗ trợ sinh kế cho các xã vùng đệm.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm điều tra lâm sinh chi tiết tại 07 ô tiêu chuẩn ở phân khu phục hồi sinh thái:

Chỉ tiêu lâm sinh OTC 1 OTC 2 OTC 3 OTC 4 OTC 5 OTC 6 OTC 7
Mật độ tầng cây cao (cây/ha) - 220 880 720 800 800 620
Số loài tầng cây cao (loài) 12 6 10 17 20 21 15
Số loài ưu thế tham gia tổ thành 10 6 7 7 7 6 7
Loài chiếm tỷ lệ IV% cao nhất Trai lý (15,63%) Mạy kháo (27,3%) Xương cá (25,78%) Xoan đào (21,43%) Mạy tèo (9,15%) Xương cá (17,41%) Đa (14,58%)
Mật độ cây tái sinh (cây/ha) 320 300 740 540 540 440 320
Số loài cây tái sinh (loài) 7 5 7 6 8 9 9
Tỷ lệ cây tái sinh phẩm chất tốt (%) 12,50 46,60 54,05 100,00 81,48 100,00 100,00
Tỷ lệ cây tái sinh phẩm chất xấu (%) 81,25 0,00 35,13 0,00 14,81 0,00 0,00
Nguồn gốc tái sinh từ hạt (%) 43,75 86,66 94,59 81,48 88,90 90,91 81,25
Nguồn gốc tái sinh từ chồi (%) 56,25 13,33 5,41 18,50 11,10 9,09 18,75
Tỷ lệ cây tái sinh triển vọng (%) 18,70 4,70 46,70 2,70 70,30 59,10 25,00

Đối với thành phần thực vật làm thức ăn cho Vượn Cao Vít tại phân khu phục hồi sinh thái, tác giả đã lập danh mục cụ thể 09 loài thuộc 7 họ:

STT Họ thực vật Tên khoa học Tên tiếng Việt Bộ phận vượn ăn
1 Aceraceae Acer tonkinensis Thích lá xẻ Lá
2 Anacardiaceae Choerospondias axillaris Xoan nhừ Lá, hoa, quả
3 Anacardiaceae Pistacia weinmanniifolia Khỉ bể Hoa
4 Annonaceae Polyalthia sp. Nhọc lá to Hoa, quả
5 Lauraceae Phoebe sp. Mạy khảo Quả
6 Moraceae Broussonetia papyrifera Dướng Hoa, quả
7 Moraceae Ficus racemosa Sung Quả
8 Rosaceae Pygeum topengii Xoan đào Quả
9 Tiliaceae Burretiodendron hsienmu (Excentrodendron hsienmu) Nghiến Lá, quả

Về đóng góp và giải pháp ứng dụng:

  • Khóa luận xác lập cơ sở dữ liệu thực địa về mức độ phục hồi rừng sau nương rẫy trên núi đá vôi tại khu bảo tồn, chỉ ra rằng ở những ô tiêu chuẩn ít bị xáo trộn gần đây (như OTC 1, 4, 5), các loài cây gỗ quý thuộc Nhóm IIA như Nghiến và Trai lý đã bắt đầu tái lập vai trò sinh thái trong tầng tán chính và xuất hiện ở tầng tái sinh.
  • Đề xuất hệ thống kỹ thuật lâm sinh cụ thể theo quy phạm QPN 21-98:
    • Thiết kế trồng giặm theo đường băng kiểm soát rộng 1 m, cách nhau 8 m, trồng zích zắc với khoảng cách cây cách cây 3 - 4 m (mật độ 300 - 400 cây/ha); đối với trảng cỏ, đất bỏ hóa mật độ trồng đến 2.000 cây/ha. Kích thước hố đào khuyến nghị 40 x 40 x 40 cm.
    • Phân kỳ loài cây trồng: Giai đoạn 1 trồng cây ưa sáng mọc nhanh tạo tán (Cườm đỏ Itoa orientalis, Kháo Litsea sp., Dướng Broussonetia papyrifera, Xoan nhừ Choerospondias axillaris, Nhội Bischofia javanica, Mò giấy Litsea monopetala, Tông dù Toona sinensis, Thôi ba lông Alangium kurzii, Dâu da xoan Allospondias lakhoensis, Thẩu mật trứng Bridelia ovata, Sung Ficus sp., Bồ hòn Sapindus sp.). Giai đoạn 2 trồng giặm cây chịu bóng, cây gỗ quý và cây thức ăn lâu năm (Trai lý Garcinia paucinervis, Nghiến Burretiodendron hsienmu, Kháo Machilus sp., Thừng mực Wrightia sp., Thích lá xẻ Acer tonkinensis).
    • Đối với rừng phục hồi trung bình: Áp dụng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên không trồng bổ sung trong 5 - 8 năm nhằm hướng tới độ tàn che $\ge$ 0,6.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Thời gian nghiên cứu ngắn (từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2020), phạm vi khảo sát mới tập trung vào các loài thực vật có mạch bậc cao thân gỗ, cây bụi và cây thuốc; chưa phản ánh đầy đủ toàn bộ mức độ đa dạng sinh học của toàn khu bảo tồn.
  • Dung lượng mẫu khảo sát gồm 07 ô tiêu chuẩn tại phân khu phục hồi sinh thái sau nương rẫy, chưa thiết lập các ô tiêu chuẩn đối chứng tại phân khu bảo vệ nghiêm ngặt để so sánh định lượng sự khác biệt cấu trúc giữa rừng nguyên trạng và rừng phục hồi.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Thiết lập hệ thống ô định vị cố định để theo dõi diễn thế sinh thái lâu dài của tầng cây tái sinh và tốc độ sinh trưởng của các loài cây gỗ quý (Nghiến, Trai lý).
  • Nghiên cứu chu kỳ vật học (ra hoa, kết quả) của 09 loài thực vật làm thức ăn cho Vượn Cao Vít tại khu phục hồi sinh thái để đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của đàn vượn theo các mùa trong năm.
  • Thử nghiệm nhân giống sinh dưỡng và gieo ươm hạt các loài cây bản địa làm thức ăn cho vượn phục vụ công tác trồng làm giàu rừng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học và Đa dạng sinh học.
  • Cán bộ kỹ thuật tại Ban Quản lý Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít cũng như các khu rừng đặc dụng trên địa hình núi đá vôi tại vùng Đông Bắc Việt Nam.
  • Các nhà quản trị bảo tồn tham khảo trực tiếp quy trình kỹ thuật khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, tiêu chuẩn kích thước hố và danh mục loài cây bản địa ưu tiên trồng làm giàu sinh cảnh.

Câu hỏi thường gặp

1. Quần thể Vượn Cao Vít tại Trùng Khánh được phát hiện vào thời điểm nào và hiện trạng quy mô đàn ra sao theo tài liệu điều tra?
Quần thể Vượn Cao Vít (Nomascus nasutus) được Tổ chức FFI phát hiện vào năm 2002 tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Đến tháng 9/2004, FFI khảo sát ghi nhận đàn có 37 cá thể. Đến tháng 5/2007, Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng ban hành quyết định thành lập Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít.

2. Phân khu phục hồi sinh thái có diện tích bao nhiêu và nằm ở vị trí nào trong khu bảo tồn?
Khu bảo tồn có tổng diện tích bảo vệ trực tiếp là 1.656,8 ha, trong đó phân khu phục hồi sinh thái chiếm 681 ha (tương đương 41% diện tích khu bảo tồn), phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 975,8 ha (chiếm 59%). Vùng nghiên cứu thuộc địa giới 3 xã phía Bắc của huyện Trùng Khánh gồm Ngọc Khê, Phong Nậm và Ngọc Côn.

3. Khóa luận sử dụng phương pháp nào để xác định loài ưu thế trong tầng cây gỗ?
Khóa luận áp dụng phương pháp của Daniel Marmillod (Đào Công Khanh, 1996) để tính chỉ số giá trị quan trọng: $IV_i% = (N_i% + G_i%) / 2$. Những loài có $IV_i% \ge 5%$ được đưa vào công thức tổ thành. Nhóm loài ưu thế được xác định bằng cách xếp $IV%$ từ cao xuống thấp cho đến khi tổng $IV%$ đạt $\ge 50%$.

4. Hai loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm ghi nhận được tại khu phục hồi sinh thái là những loài nào?
Đó là loài Nghiến (Burretiodendron hsienmu, thuộc họ Tiliaceae/Malvaceae, xếp hạng EN trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 và IUCN) và Trai lý (Garcinia fagraeoides, thuộc họ Clusiaceae, xếp hạng VU trong Sách Đỏ Việt Nam). Cả hai loài đều thuộc Nhóm IIA theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ.

5. Giải pháp kỹ thuật lâm sinh được tác giả đề xuất cho các khu vực rừng phục hồi sau nương rẫy kém hiệu quả là gì?
Tác giả đề xuất áp dụng Quy phạm QPN 21-98: mở đường băng kiểm soát rộng 1 m cách nhau 8 m để trồng giặm zích zắc với mật độ 300 - 400 cây/ha (khoảng cách cây cách cây 3 - 4 m) hoặc trồng mật độ tới 2.000 cây/ha trên đất trống, nương rẫy bỏ hóa. Quy trình chia làm hai giai đoạn: giai đoạn đầu trồng các loài cây bản địa ưa sáng mọc nhanh (Cườm đỏ, Kháo, Dướng, Xoan nhừ...), giai đoạn sau trồng các loài chịu bóng, cây gỗ quý và cây thức ăn lâu năm (Trai lý, Nghiến, Kháo, Thích lá xẻ).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Lãnh Quang Kiến đã phản ánh toàn diện đặc điểm cấu trúc lâm phần và hiện trạng tái sinh tại phân khu phục hồi sinh thái thuộc Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Các số liệu điều tra tại 07 ô tiêu chuẩn khẳng định hệ thực vật rừng sau nương rẫy đang trong quá trình phục hồi tự nhiên tích cực, với sự tái xuất hiện của các loài cây gỗ quý Nhóm IIA và 09 loài thực vật cung cấp thức ăn cho vượn. Các giải pháp kỹ thuật lâm sinh và quản lý bảo vệ rừng được đề xuất bám sát quy phạm chuyên ngành, có giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác bảo tồn loài linh trưởng đặc hữu này.