Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây é trắng 1.1 Phân loại, nguồn gốc và phân bố của cây é trắng Cây é trắng có tên khoa học là Ocimum basilicum var. thuộc thuộc chi Ocimum, họ Hoa môi Lamiaceae. Cay é trắng còn có tên gọi khác là húng trắng, trà tiên, tiến thực. Cây é trắng có nguồn gốc ở Nam Phi, nay được trồng ở nhiều nơi trên thế giới: Ấn Độ, Nepan, Myanmar, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Lào, Campuchia, một số nước Châu Âu, Châu Mỹ.
Ở Việt Nam: phân bố ở khắp các tỉnh, thành phố từ Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Hà Nội, Ninh Bình vào các tỉnh phía Nam (Võ Văn Chi, 2004).2 Đặc điểm hình thái Theo Trần Lê Ánh Thùy và Trương Thị Dep (2011), cây é trắng có các đặc điểm như sau: Cây é trắng thuộc cây thân thảo đứng, cao 30 — 80 cm, nhiều lông, có mùi thơm. Lá hình trứng nhọn ở hai đầu, kích thước 3 - 6 x 2 — 3,5 cm, mép hơi răng cưa nhọn và thưa, màu xanh đậm mặt trên, mặt dưới nhiều lông nhám và đốm tuyến; 4-8 cặp gân phụ; cuống lá màu xanh nhạt, dai 1,5 — 2 em. Cụm hoa chùm xim bó dài 15 — 30 em ở ngọn cảnh; khoảng cách giữa hai vòng giả 1 — 2,5 cm. Lá bắc dài hơn đài, màu xanh, dạng lá thường hoặc mũi mác, thường cong hướng lên, nhiều lông, kích thước nhỏ dan về phía ngọn phát hoa, khoảng 0,4 — 2,5 x 0,2 — 1,8 cm, thường rụng sớm.
Cánh hoa màu trắng, mặt ngoài có nhiều lông dài và nhiều đốm tuyến, ống dài khoảng 0,3 cm hơi that ở gan đáy, môi trên 4 thùy can gân đều hình hoi tròn; môi dưới 1 thùy dài hơn môi trên, hình trứng, đỉnh nhọn, mép hơi nhăn. 3 Nhị trước dai 0,6 — 0,7 em, nhị sau dai 0,5 — 0,6 em gốc có cya mang tim lông; bao phấn mau trang sữa; hat phan mau trang sữa, kích thước 45 — 50 x 35 — 42,5 um; vòi nhụy mau tim nhạt, dai 0,7 — 0,8 cm. Qua mau den, hình bau duc hơi có cạnh, dai khoang 1,5 mm.3 Giá trị của cây é trắng Trong ẩm thực: é trắng là một gia vị đặc trưng của các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, đặc biệt rất nổi tiếng ở Phú Yên. Trong y học cổ truyền: é trăng có tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, lợi cô họng, giải nhiệt, thông tiện, thường dùng chữa ho khan, cô họng sưng đau, nôn ra máu, chảy máu cam, viêm đường tiết niệu, nhức răng, đau mắt đỏ, mụn nhọt.
Dân gian hay dùng dé làm mát và nhuận cơ thé bằng cách làm thức uống giải khát dé trừ các bệnh nhiệt trong mùa hè như an thần, chống stress, thông nhuận đường đại tiện, dịu thần kinh, cải thiện mỡ máu, góp phần quan trọng làm giảm nguy cơ các bệnh tim mạch, huyết áp cao. Dùng ngoài trị rắn độc cắn, viêm da (Võ Văn Chi, 2012).4 Thu hoạch cây é trắng Cây é trắng khi thu hái để cất tinh dầu cần thu vào thời ky cây ra nụ đều, cây é trang thu hái vào lúc trời khô ráo và thường chưng cất ở dạng tươi, nếu dé lâu thì ảnh hưởng đến tỷ lệ và chất lượng tinh dầu. Nếu trồng tập trung thì mỗi ha có thé thu hoạch được 20 — 40 tan lá, chưng cất được 50 — 100 lít tinh dau (Nguyễn Khang va Phạm Văn Kién, 2001).5 Tỉnh dầu và công dụng tỉnh dầu cây é trắng Toàn cây é trắng chứa từ 1,35 đến 2,35% tinh dau. Tinh đầu màu vàng nhạt, có mùi thơm dễ chịu của sả và chanh, thành phần chủ yếu của tinh dau là citral với tỉ lệ 56%, ngoài ra còn khoảng hơn 20 chất khác (Đỗ Tat Lợi, 2004).
Citral là monotecpen có giá tri trong ngành công nghiệp nước hoa, mỹ phẩm, hương vi, được phẩm. Nó được dùng dé tổng hợp vitamin A, a-ionon, B-ionon và các hóa chất đặc biệt khác. Citral có nhiều hoạt tính sinh học như hoạt tính kháng khuẩn, chống viêm, chống kí sinh trùng. Ngày càng có nhiều công bố về hoạt tính sinh học của các loại tinh dầu giàu citral, cho thấy citral có một tầm quan trọng đặc biệt trong hoạt động y dược (GanJewala và ctv, 2012).
Theo Vũ Thị Hải Yến (2018), tinh dầu é trắng được sử dụng trong hương phẩm, công nghệ pha chế nước hoa và các sản phâm mỹ phẩm chăm sóc răng miệng như kem đánh răng, nước súc miệng.2 Khái quát về phân hữu cơ vi sinh 1.1 Định nghĩa phân hữu cơ vỉ sinh Theo Phạm Xuân Lân (2007), phân hữu cơ vi sinh là một loại san phẩm được tạo thành thông qua quá trình lên men vi sinh vật các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc khác nhau (phế thải nông, lâm nghiệp, phé thải chăn nuôi, phế thải chế biến, phế thải đô thị, phế thải sinh hoạt), trong đó các hợp chất hữu cơ phức tạp đưới tác động của vi sinh vật hoặc các hoạt chất sinh học của chúng được chuyền hóa thành mùn. Theo Nguyễn Mạnh Cường và Nguyễn Mạnh Hùng (2013), phân hữu cơ vi sinh làm từ nguyên liệu là than bùn đã hoạt hóa bằng men vi sinh vật công nghiệp phối trộn một lượng nhỏ các chất đinh dưỡng khoáng, đặc biệt chứa một lượng đáng kế các vi sinh vật hữu ích còn sống, chủ yếu là vi sinh vật có định dam, vi sinh vật phân giải lân và xenlulose. Sau khi bón vào đất các vi sinh vật này tiếp tục hoạt động phân giải chất hữu cơ và tích lũy dam, lân cung cấp cho cây. Vì vậy các phân hữu cơ — vi sinh có tác dụng phân giải đạm và lân là chính, ít có kali.
Trong thực tế thường có trộn thêm | lượng nhỏ NPK và trung — vi lượng. Theo Nghị định số 108/2017/ND — CP về quan lý phân bón (2017), phân bón hữu cơ vi sinh là phân bón trong thành phần chất chính gồm có chất hữu cơ và ít nhất một loài sinh vật có ích. Theo Lê Thị Thu Tra (2016), một số tổ hợp các vi sinh vật chức năng dé sản xuất phân hữu cơ vi sinh như: VSV cố định đạm (Rhizobium, Bradyrhizobium), VSV cô định Nito tự do (A. tinctorius), VSV phân giải lân (Pseudomonas sp.), VSV kích thích sinh trưởng (£.
aerogenes), VSV đối khang vi khuẩn, nam bệnh (B. subtilis, Pseudomonas sp. Theo Quyết định số 608/ QD — TT — PPB của Cục trồng trọt (2014), tiêu chuẩn của phân hữu cơ vi sinh gồm: Âm độ đối với phân bón đạng bột là không vượt quá 30%, hàm lượng hữu cơ tông số không thấp hơn 15%, mật độ mỗi chủng vi sinh vật có ích 2 không thấp hon 1 x 106 CFU/g (mL). Ngoài ra, các chỉ tiêu định lượng bắt buộc trong phân bón hữu cơ vi sinh như sau: asen (As) không vượt quá 3,0 mg/kg (lit) hoặc ppm; cadmi (Cd) không vượt quá 2,5 mg/kg (lit) hoặc ppm; chì (Pb) không vượt quá 300,0 mg/kg (lit) hoặc ppm; thủy ngân (Hg) không vượt quá 2,0 mg/kg (lit) hoặc ppm; mật độ tế bao vi khuẩn Salmonella không phát hiện trong 25 g hoặc 25 mL mẫu kiểm tra (CFU).
Theo Thông tư số 09/2019/TT — Bộ NN và PTNT về Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng phân bón, các chỉ tiêu chất lượng chính trong phân hữu cơ vi sinh phải đạt là: Hàm lượng chất hữu cơ > 15%, có mật độ mỗi loại vi sinh vật có ích > 1x 10° CFU/g (mL), hoặc mật độ nam rễ cộng sinh > 10? IP/g, độ âm < 30% (dạng rắn).2 Vai trò của phần hữu cơ vỉ sinh Theo Vũ Hữu Trường Điền (1998), phân hữu cơ vi sinh là sản phẩm sinh học có tác dụng nâng cao năng suất và chất lượng nông sản, giảm chi phí, tiết kiệm, và tăng hiệu lực phân hóa học, làm giảm tối thiểu việc sử dụng phân khoáng góp phần tạo nên cân bằng sinh thái. Phân hữu cơ vi sinh có ý nghĩa trong việc bảo vệ môi trường và xây dựng nên nông nghiệp sạch bền vững, do vậy nghiên cứu sử dụng phân hữu cơ vi sinh trong nông lâm nghiệp đã và đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm và phát triển. Võ Thị Gương và ctv (2011) cho rằng phân hữu cơ vi sinh vật không gây ảnh hưởng xấu đến người, động vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản. Bên cạnh việc cải thiện năng suất cây trồng cũng như phẩm chat nông sản (biểu hiện rõ nhất thông qua chi số dư tồn nitrate trong sản phẩm), hiệu quả của phân hữu cơ vi sinh còn thé hiện qua việc cải thiện tính chất đất bao gồm đặc tính vật lý, hoá học và sinh học.
Theo Trần Minh Hiền và ctv (2013), phân bón hữu cơ vi sinh có tác dụng tốt đến sự sinh trưởng, phát triển, năng suất cây trồng, giảm giá thành, nâng cao hiệu quả trồng trọt và cải tạo môi trường đất canh tác. Phân hữu cơ vi sinh không chỉ cung cấp đủ các yếu tố dinh dưỡng khoáng đa lượng, trung lượng, vi lượng cho cây trồng, hòa tan các chất vô cơ trong đất thành chất dinh dưỡng mà còn giúp bồi dưỡng, cải tạo, nâng cao độ phì nhiêu, tăng lượng mun trong đất làm đất tơi xốp, không bị bạc màu. Ngoài ra, phân hữu cơ vi sinh còn có tác động tốt đến môi trường sống của hệ vi sinh vật đất, giúp bổ sung nguồn vi sinh vật có 6 lợi cho cây trồng như các nam đối kháng giúp phòng trừ bệnh cho cây trồng, các vi sinh vật làm tăng khả năng trao đổi chat, tăng sức đề kháng và chống chịu bệnh hại, các vi sinh vật phân giải những chất khó hấp thu thành chat cây trồng dé hap thu. Với đặc tính ưu việt của phân bón vi sinh cung cấp mùn hữu cơ đã được hoạt hóa, các dưỡng chất cần thiết cho cây trồng, các vi sinh vật hữu ích giúp cải tạo và tăng độ phì nhiêu cho đất làm cân bằng hệ sinh thái đồng ruộng, bảo vệ môi trường, giúp cây trồng hấp thu nhanh các chất dinh dưỡng.
Nhận thức được điều đó nên bà con nông dân đang sử dụng phân bón vi sinh thay thé dan cho phân chuồng. Tùy thuộc độ phì đất và nhóm giống đề sử dụng lượng phân hữu cơ vi sinh cho phù hợp.3 Giới thiệu về phân HCVS Trichomix DT - Plus Phân hữu cơ vi sinh Trichomix - DT Plus là sản phâm của công ty Trách nhiệm hữu hạn Điền Trang. Theo công ty, Trichomix - DT Plus là phân hữu cơ vi sinh dùng cho mọi giai đoạn của các loại cây trồng, cung cấp dinh đưỡng dễ tiêu giúp cây hấp thu nhanh và hiệu quả; kích thích bộ rễ cây trồng phát triển, giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt; phục hồi cây sau thu hoạch.