CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tình hình phát thải khí nhà kính toàn cầu và Việt Nam Theo báo cáo của Viện Tài nguyên thế giới (WRI), tính từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 (khoảng thập kỷ 1850) đến nay (năm 2011), lƣợng phát thải KNK toàn cầu đã gia tăng nhanh chóng, từ 198 triệu tấn CO2 (MtCO2) lên đến hơn 32 tỷ tấn CO2 (GtCO2). Trong đó, Việt Nam xếp thứ 31 thế giới về phát thải KNK, theo báo cáo Kiểm kê khí nhà kính lƣợng phát thải KNK của Việt Nam năm 2010 là 246,8 MtCO2 (bao gồm LULUCF), đến năm 2020 ƣớc đạt 474,1 MtCO2 và năm 2030 là 787,4 MtCO2 (Bộ TN&MT, 2014).1: Lượng phát thải toàn cầu từ năm 1850 đến năm 2011 (MtCO2) Báo cáo phát thải của Chƣơng trình Môi trƣờng Liêp hiệp quốc (UNEP ,2017) dự báo rằng lƣợng phát thải toàn cầu đạt đỉnh vào năm 2020 là 52 GtCO2, 48 GtCO2 cho đến 2025, và 42 GtCO2 vào năm 2030 cho 66% khả năng hạn chế ấm lên toàn cầu ở mức 2oC. Cũng theo kịch bản này, nếu mức phát thải trung bình toàn cầu vào khoảng 56 GtCO2 vào năm 2020, 47 GtCO2 vào 2025 và 39 GtCO2 vào năm 2030 thì có 50% khả năng hạn chế ấm lên toàn cầu ở mức 1,5oC.
UNEP cũng nhận định lƣợng phát thải KNK toàn cầu vẫn ổn định trong liên tiếp 2 năm từ năm 2014 đến 2016: 51,7 GtCO2 vào năm 2014, 35,6 GtCO2 vào năm 2015 và 51,9 GtCO2 năm 2016, nhƣng vẫn chậm rãi tăng lên. So sánh 5 z với hiện tại 2016, tổng lƣợng phát thải toàn cầu, bao gồm cả phát thải từ sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) là đã đạt 51,9 tỷ tấn CO2 (UNEP, 2017) có thể thấy cộng đồng quốc tế còn phải tiếp tục nỗ lực rất lớn để đạt mục tiêu đạt đỉnh phát thải toàn cầu vào năm 2020 là 52 GtCO2. Các hành động giảm phát thải khí nhà kính của cộng đồng quốc tế và Việt Nam 1. Các hành động giảm phát thải khí nhà kính của cộng đồng quốc tế Năm 1988, nhận thức đƣợc tầm quan trọng của việc ứng phó với BĐKH, Tổ chức Khí tƣợng thế giới (WMO) và UNEP đã thống nhất thành lập một Ủy ban chung chịu trách nhiệm về biến đổi khí hậu gọi là Ủy ban liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC).
Mục tiêu của IPCC là cung cấp cho thế giới một cái nhìn khoa học về BDDKH và các tác động của nó đối với kinh tế và chính sách toàn cầu (WMO, 1988). IPCC chịu trách nhiệm đƣa ra các báo cáo hỗ trợ Cung ƣớc khung của Liên hiệp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) – thỏa thuận quốc tế chính về BĐKH. Đến năm 1992, Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trƣờng và Phát triển (UNCED) đã thống nhất và đƣa ra nội dung của Công ƣớc khung của Liên hiệp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC). Mục tiêu của Công ƣớc là ổn định các nồng độ KNK trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa đƣợc sự can thiệp nguy hiểm của con ngƣời đối với hệ thống khí hậu.
Tuy Công ƣớc không có các ràng buộc pháp lý và cơ chế thực thi về giới hạn phát thải KNK nhƣng lại cung cấp một bộ khung cho việc đàm phán các hiệp ƣớc quốc tế cụ thể (gọi là "nghị định thƣ") có khả năng đặt ra những giới hạn ràng buộc về KNK (United Nations, 1992). Tháng 12 năm 1997, tại Hội nghị giữa các bên tham gia về Biến đổi khí hậu lần thứ 3 (COP3), Nghị định thƣ Kyoto (KP) đã đƣợc ký kết và chính thức có hiệu lực vào năm 2005. Trong đó 36 quốc gia công nghiệp trên thế giới và liên minh Châu Âu (EU) bắt buộc phải cắt giảm khí CO2 và năm loại khí gây hiệu ứng nhà kính khác ít nhất 5% so với mức phát thải năm 1990, hoặc có thể tiến hành biện pháp thay thế nhƣ mua bán phát thải nếu không muốn đáp ứng 6 z yêu cầu đó (UNFCCC, 1997). Đây cũng là điểm nổi bật của Nghị định thƣ Kyoto vì có cơ chế linh hoạt bằng cách cho phép các nƣớc Phụ lục I mua lƣợng khí cắt giảm đƣợc từ những quốc gia khác nhằm đạt đƣợc mục tiêu cắt giảm khí thải.
Theo đó, các quốc gia có hạn ngạch phát thải carbon dƣ thừa có thể bán hạn ngạch này cho những nƣớc có lƣợng phát thải vƣợt ngƣỡng cho phép. Đây đƣợc xem nhƣ một công cụ hiệu quả nhằm giúp các nƣớc đang phát triển tham gia vào Nghị định thƣ Kyoto, giúp nâng cao năng lực công nghệ ở các quốc gia này, đồng thời giải quyết đƣợc bài toán lợi ích giữa kinh tế và môi trƣờng tại các quốc gia phát triển. Tƣơng tự, cơ chế đồng thực hiện cũng cho phép một quốc gia thành viên tự thực hiện một dự án ở một quốc gia thành viên khác và qua đó giành đƣợc thêm hạn ngạch phát thải ở nƣớc mình (Đào Minh Hồng, 2013). COP13 đồng thời cũng là Hội nghị giữa các bên lần thứ 3 về Thỏa thuận Kyoto (CMP3) đƣợc tổ chức vào tháng 12 năm 2007 tại Bali, Indonesia.
Hội nghị nhằm tăng cƣờng khả năng giảm nhẹ BĐKH ở cấp độ quốc tế và quốc gia, áp dụng cho cả các quốc gia đã và đang phát triển. Hội nghị đã đƣa ra Kế hoạch hành động Bali (BAP) và các bƣớc cụ thể để đàm phán đạt đƣợc một thỏa thuận vào năm 2009 cho giai đoạn sau 2012 khi Nghị định thƣ Kyoto hết hạn. BAP lần đầu tiên đƣa ra khái niệm Hành động giảm phát thải khí nhà kính phù hợp điều kiện quốc gia (NAMA) là các chính sách và hành động mà các quốc gia tự nguyện thực hiện nhằm giảm phát thải KNK đồng thời thúc đẩy phát triển bền vững. Các hành động này sẽ đƣợc hỗ trợ và thực hiện thông qua việc chuyển giao công nghệ, cung cấp tài chính và tăng cƣờng năng lực từ các nƣớc đã phát triển.
Do đó, BAP cũng đồng thời đã đƣa ra khái niệm hệ thống Đo đạc – Báo cáo – Thẩm định (MRV) để đảm bảo các hỗ trợ quốc tế này đƣợc sử dụng một cách có hiệu quả (UNFCCC, 2007). Tháng 12 năm 2009, COP15 và CMP5 đã đƣợc tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch. Theo BAP, hội nghị này kỳ vọng đƣa ra một chƣơng trình khung về giảm thiểu BĐKH cho giai đoạn sau năm 2012 khi mà giai đoạn cam kết đầu tiên chấm dứt và Nghị định thƣ Kyoto hết hiệu lực. Tuy nhiên, hội nghị đã kết thúc mà không đạt đƣợc một thỏa thuận ràng buộc cho hành động lâu dài nào.
7 z Thay vào đó, một hiệp định chính trị đã đƣợc 25 quốc gia thông qua bao gồm cả Mỹ và Trung Quốc – 2 quốc gia có lƣợng phát thải lớn nhất thế giới, chiếm 20% phát thải KNK toàn cầu. Hiệp định đƣa ra đƣợc 2 điểm nổi bật là (1) các quốc gia đồng ý hạn chế mức tăng nhiệt độ toàn cầu là 2oC; (2) các nƣớc phát triển sẽ hỗ trợ tài chính 30 tỷ USD trong giai đoạn 2010-2012 và lên tới 100 tỷ USD cho tới năm 2020 cho các nƣớc đang phát triển để thích ứng và giảm thiểu với BĐKH. Ngoài ra, hội nghị cũng đã làm rõ thêm về cơ chế NAMA và khái niệm MRV, trong đó có quy định về Báo cáo 2 năm 1 lần (BUR) (UNFCCC, 2009). Liên tiếp các năm sau đó 2010, 2011, 2012 các COP16, 17, 18 diễn ra tại Cancun, Durban và Doha là giai đoạn tái cấu trúc sau Copenhagen đều hƣớng tới mục tiêu là đƣa ra một hiệp ƣớc thống nhất về văn bản mang tính ràng buộc pháp lý mới thay thế cho Nghị định thƣ Kyoto.
Tuy các hội nghị đã kết thúc với kết quả không nhƣ mong đợi khi các quốc gia chủ chốt vẫn bất đồng gay gắt về nghĩa vụ giảm KNK, nhƣng đến COP18 hội nghị cũng đã đạt đƣợc thỏa thuận về (1) kéo dài KP cho tới 2020 và (2) cụ thể hóa nền tảng Durban (Durban Platform) thông qua vào năm 2015 thực hiện cho tới 2020. Ngoài ra hội nghị còn có tiến triển liên quan đến việc thành lập Quỹ Khí hậu Xanh (GCF) hỗ trợ 100 tỷ USD/năm theo ý tƣởng của COP15 (UNFCCC, 2012). COP19/CMP9, COP20/CMP10 diễn ra tại Warsaw, Ba Lan và Lima, Peru năm 2013, 2014 với mục tiêu chung là tiếp tục thỏa thuận và cùng nhau hƣớng tới một thỏa thuận khí hậu vào năm 2015. COP19 đƣợc đánh giá là đặc biệt quan trọng do 2013 là năm bắt đầu thực hiện KP giai đoạn 2.
Tuy nhiên, do những bất đồng, nhƣ: Nhật Bản công bố tăng thêm 3,1% mức phát thải của mình, đi ngƣợc lại cam kết trƣớc đó là giảm 25% khí thải vào năm 2020; Australia tuyên bố điều chỉnh mức giảm phát thải từ 15-25% thành 5% vào năm 2020 (so với mức cam kết đƣa ra năm 2000); và các trì hoãn nghĩa vụ đóng góp tài chính cho GCF nên hội nghị vẫn chƣa đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Hội nghị cũng đƣa ra Cơ chế Warsaw để cung cấp kiến thức chuyên gia, hỗ trợ cho các nƣớc đang phát triển để đối phó với các tổn thất và thiệt hại từ các cực đoan nhƣ: sóng nhiệt, hạn hán, lũ lụt, nƣớc biển dâng và sa mạc hóa. Phải tới 2014, tại Lima, Peru hội nghị mới 8 z thông qua Thỏa thuận khung cam kết cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính với tên gọi “Hiệu triệu Lima cùng hành động vì khí hậu” nhằm đặt nền tảng cho việc thông qua thỏa thuận toàn diện hơn tại hội nghị khí hậu ở Paris (Pháp) vào năm tới. “Tuy là một tín hiệu tích cực và là nền móng để xây dựng một dự thảo thỏa thuận toàn cầu về biến đổi khí hậu, dự kiến sẽ đƣợc đƣa ra thảo luận tại COP 21 (tổ chức tại thủ đô Paris, Pháp) vào năm 2015; song, nội dung đạt đƣợc tại Hội nghị chƣa đáp ứng đƣợc kỳ vọng của thế giới trƣớc tác động ngày một rõ ràng và mạnh mẽ của biến đổi khí hậu” - Nguyễn Văn Tuệ, Cục trƣởng Cục Biến đổi khí hậu - Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, Phó trƣởng Đoàn đàm phán của Việt Nam về biến đổi khí hậu.
COP21/CMP11 năm 2015, hội nghị đã đạt bƣớc tiến lớn và đƣợc đánh giá là đạt đƣợc mục tiêu của hội nghị. Các nhà đàm phán về BĐKH của Liên hợp quốc đã thống nhất “Thỏa thuận Paris” (PA) nhằm hạn chế mức tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu ở mức dƣới 2oC và có khả năng là dƣới 1,5oC. COP21 cũng đánh dấu lần đầu liên, tất cả các quốc gia có nghĩa vụ pháp lý tham gia vào nỗ lực quốc tế và đóng góp nhằm giảm nhẹ BĐKH bằng cách đệ trình Đóng góp do Quốc gia tự quyết định (NDC).