Chương 1 TONG QUAN VAN DE NGHIÊN CỨU 1. 1, Các công trình nghiên cứu trên thé giới và ở Việt Nam 1. Nghiên cứu xác định thành phân, phân bé loài côn trùng có giá trị lầm thực phẩm Các loài côn trùng có giá trị làm thực phẩm đã được các quốc gia trên thé giới rit quan tâm nghiên cứu, quá trình nghiên cứu xác định số lượng loài có giá trị làm thực phẩm được phát triển theo sự phát triển của loài người, theo lịch sử ghi chép. một số loài côn trùng được con người nghiên ụ, chế biển làm thực phẩm, thậm chi ansống có từ thời tién sử.
Các công trình nghiên cứu vé số lượng, thành phan điễn hình của các tác giã trên thể giới và ở Việt Nam được luận văn phân h đánh giá tổng quát dưới đây. Ở Nhật Bản, trong một báo cáo vào nấm 1919, có 55 loài côn trùng ăn được đã được liệt kê (Miyake, 1919). Sau Chiến tranh thể giới thứ hai, con số này giảm do thay đổi môi trường và xã hội tuy nhiên, một số loài côn trùng vẫn được sử dụng làm thực phẩm một phổ như Châu chấu và các loài Ong bắp cày (Kenichi, 1987).400 loài côn trùng đang trở thành thức ăn thường nhật, thậ chỉ có tên trong danh sách đặc sản c 113 quốc gia trên thé giới với gần 3. Trong đó phổ biến nhất là Ki |.
Ong, Dé và Sâu bướm. Đó chi là một con số rit nhỏ trong tổng số hàng triệu loài côn. trùng trên trái đất và số lượng thực tế những loài côn trùng có thể ding làm thức ăn chác chắn còn lớn hơn nhiều (Ramos et al, 1990). “Năm 2005, Ramos đã thông kê số loài côn trùng được sử dụng làm thực phẩm trên thể giới lên đến hơn 1.
Xét về mặt địa lý, Châu Mỹ và ‘Chau Phi có số lượng các loài côn trùng được sử dụng làm thực phẩm là cao nhất. Châu Mỹ có 679 loài chiếm 39% với 36 nước tiêu thụ. Châu Phi có 524 loài chiếm 30% với 23 nước tiêu thụ. Số loài được sử dụng ít nhất là ở các nước Châu Âu gồm 41 loài chiếm 2%, với 11 nước tiêu thụ.
Bởi người Châu. Âu đường như xem việc ăn côn trùng là biện pháp cuối cùng, người ta chỉ ăn chúng khi không c‹ các loại thịt khác. Năm 1997, các loài côn trùng sử dụng, làm thực phẩm được thống kê chủ yêu thuộc 09 bộ: Bộ Cánh bằng (Isoptera), bộ Cánh thing (Orthoptera), bộ Ran (Anoplura), bộ Cánh nửa cứng (Hemiptera), bộ Cánh đều (Homoptera), bộ Cánh cứng (Coleoptera), bộ Cánh vy (Lepidoptera), bộ Hai cánh (Diptera) và bộ Cánh màng (Hymenoptera) (Ramos et al, 1997). Các loài côn trùng được sử dụng làm thực phẩm tai tinh Hồ Nam có hơn 44 loài (Zhu, 2003); tai tỉnh Giang Tô có 122 loài thuộc 48 họ của 10 bộ (Lu, 2005) Trong hơn 1.700 loài côn trùng được sử dụng làm thực phẩm trên thé mà Ramos đã thống kế năm 2005 bao gồm có 04 bộ côn trùng chiếm ưu thé toàn cầu, tính theo thứ tự cấp bậc là: Bộ Cánh cúng, bộ Cánh màng, bộ Cánh thẳng và bộ Cánh vay, Số loài trong 04 bộ này đã chiếm tới 80% các loài côn trùng được sử dụng làm thực phẩm (Ramos, 2005).
Côn trùng được sử dụng làm thực phẩm có thể ở các giai đoạn (pha) sinh trưởng khác nhau của chu ky sống. Ví dụ: Tim (Bombyx mori L.) được xử dung làm thức ăn ở các giai đoạn sâu non và nhộng. Côn tring thủy sinh như Chuồn chuồn (Odonata) được sử dụng làm thức an ở giai đoạn au trùng ở nước. Kiến được tiêu thụ ở giai đoạn nhộng (thường quen gọi là trứng kiết vàng (Vespidae) được khai thác ở pha sâu non và nhộng; Mối (Isoptera) gồm mỗi chúa và môi cánh (Hanboonsong et al, 2000).
Theo nghiên cứu của Ratanapan (2000), hơn 150 loài côn trùng thuộc 8 bộ được tiêu thụ bởi người dân của vùng Đông Bắc. Khoảng 50 loài côn trùng được tiêu thụ ở miền Bắc và khoảng 14 loài được tiêu thụ ở miễn Nam Thái Lan. Số loài được sử dụng làm thực phẩm lớn nhất ở Thái Lan thuộc bộ Cánh. Phổ biến nhất ở miễn bắc Thái Lan là các loài thuộc họ Belostomatidae.
Các loài thuộc họ Dytiscidae, Hydrophilidae và Formicidae được sử dụng rộng rãi trong cả nước. Sâu tre (Omphisa fuscidentalis Hampson) và Dễ (Gryllidae và Gryllotalpidae) phổ biến ở khu vực phía Bắc. Ong bắp cày (Vespa affinis indosinensis Perez), ong mật (A. florea ELVàApis dorsata E) và Mối (Macrotermes gilvus Hagen) nôi tiếng ở miễn nam Thái Lan.
Kết quả nghiên cứu về thành phần các loài côn trùng được sử dụng lầm thực phẩm ở. khu vực Đông Bắc Thái Lan gồm 147 loài. Những thói quen ăn côn trùng. khác nhau ở các vùng khác nhau có thể phụ thuộc vào tập quán văn hóa, tôn giáo hoặc khu vực địa lý.
Đông Bắc thường gặp các vấn để tự nhiên như hạn hán, đất khô can hay lũ lụt, với những người sống gần với thiên nhiên. Do 46, các loại thực phẩm tự nhiên như côn trùng, đó là dễ dàng để tim và thu hoạch, trở thành một phần của cuộc sống và văn hóa. Ở Trung Quốc, việc sử dụng côn trùng làm thực phẩm đã có một lịch sử lâu dài từ 3.200 năm trước đây. Nam 1998, Yang cũng đã d ip đến một số loài côn trùng được sử dung làm thực phẩm ở Trung Quốc.
Đến năm 1999, Chen và Feng đã thống kê được 11 bộ. 54 họ, 96 chỉ và 177 loài côn trùng được sử dụng làm thực phẩm phổ biến ở Trung Quốc (Dẫn theo Chen er al, 2008). Trong tổng số 177 loài côn trùng được sử dụng làm thực phẩm đã được ghi nhận ở Trung Quốc thì các loài Ong được sử dụng nhiễu nhất với 12 loài. Họ Vespidae chiếm mười loài: Vespa velutinia auraria Smith, V.
Tropica ducalis Smith, V. analis nigrans Buysson, V. mvaarinia mydarinia Smith, V. va Provespa barthelemyi Buysson.
Hai loài còa lại thuộc ho Polistidae: Polistes sagittarius Sai P. Danh sách các loài côn trùng được sử dụng làm thực phẩm phé biển trong khu vực nông thôn Trung Quốc gồm 40 loài (Chuanhui et al, 3010) Bồn quốc gia: An Độ, Nepal, Pakistan và Sri Lanka liền kể nhau với tổng, “điện tích đất rất lớn nhưng chỉ có 57 loài côn trùng được sử dụng làm thực phẩm. “Một trong những lý do mà ở những nước này có số loài côn tring được sử dụng, ít bởi phần lớn người dân theo An Độ giáo và Phật giáo nên chủ yếu là người ăn. Ngay như Sâu tim được nuôi ở An Độ và Nepal để lấy sợi nhưng Nhộng.
tim còn được người An Độ sử dụng làm thực phẩm gle Nepalhì không. họ đang thử nghiệm làm thức ăn cho gia cằm và cá (Dennis, 2008). Khi nghiên cứu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phù Luông, Thanh Hoá, Bui Văn Bắc (2013), đã xác định được 23 loài côn trùng kinh tế thuộc 8 ho của 3 bộ. Bộ Cánh thẳng có số loài nhiều nhát gồm 20 loài, bộ Cánh màng có 06 loài còn bộ Cánh vay có duy nhất 01 loài.
Nguyễn Thị Hồng Nghiệp và Lê Bảo Thanh (2014) đã thống kê được được 34 loài, 31 giống côn trùng thuộc 21 họ của 9 bộ (Odonata, Mantodea, Isoptera, Orthoptera, Hemiptera, Homoptera, Coleoptera, Lepidoptera và Hymenoptera) được sử dung làm thực phẩm tại khu vực Tây Bắc. Cụ thể, có 5 bộ côn trùng có số loài chiếm ưu th tinh theo thứ tự cấp bộc là bộ “inh màng có 8 loài, chiếm 23,5%, bộ Cánh thing có 7 loài, chiếm 20,6%, bộ Cánh cứng có 5 loài, chiếm 24,7%, còi bộ Cánh vảy và bộ Cánh nứa đều có 4 loài, chiếm 11,8%. Nghiên cứu về kién thức bản địa trong khai thác, chế biến sử dung côn trùng làm thực phim Hiện nay, vẫn còn 26 nhóm dân tộc giữ gìn được phong tục ăn côn trùng trong khu vực đa quốc gia của Trung Quốc, mặc dù mức sống đã được. cải thiện một cách nhanh chóng (Peng et al, 2003), Ở Thái Lan, việc nghiên cứu về các loài côn trùng được sử dụng làm thực phẩm dường như tốt hon nhiều so với các nước khác trong khu vực Châu Á và Thái Bình Dương.
Các tạp chí đều ghỉ nhận rằng côn trùng rừng là món. ăn nhẹ pho ở Thái Lan, từ các ngôi làng ở nông thôn đến các đường phố. đông đúc của Bangkok. Có thê nói ăn côn trùng có một lịch sử lâu dài ở Thái Lan và xảy ra trên khắp đất nước này.
“Tại Sri Lanka côn trùng chỉ được tiêu thu bởi các bộ lạc thiêu số Vedda gồm 29 loài. Các Vedda quen với việc ăn ấu trùng ong khoái,A. Côn trùng cũng được sử dụng làm thực phẩm tai Indonesia với 26 loài, Philippin 19 loài và Myanma 15 loài. Tuy nhiên số liệu nay chưa được đầy đủ (De Fotiart, 2002).
Ở Trung Quốc dé chuẩn bị chế biển ong bắp cày thành món ăn thi trước. u trùng và nhộng ong ra khỏi tổ. Bằng cách này, các côn tring có thé được giữ sạch sẽ va tươi mới. Cách phổ biến nhất để bắp cày là sâu chiên hoặc chi Jinghong và Ruili thuộc tỉnh Vân Nam lại thích sôi ấu trùng và nhộng ong bang hơi nước và sau đó trộn với giấm các gia vị khác trước khi ăn (Feng er al,2008), Theo Dwi (2008), người dân ở đảo Java thuộc Indonesia cho rằng để chuẩn bị được món ăn từ côn trùng thì trước tiên cần sơ chế sạch sẽ.
Với du trùng, nhộng, kén thì khá đơn giản chỉ cần làm sạch bằng cách rửa trong. nước và để khô ráo, Nhưng với côn trùng trưởng thành có cánh thì khó khăn hơn trong quá trình sơ chế, Phải ngất bỏ đầu, chân, cánh và rút ruột sau đó rửa sạch, để ráo rồi đút vào túi nilon cho vào ngăn đá tủ lạnh trong. vòng 15 phút, Những con côn trùng nảy sau đó được lấy ra khỏi tủ đông và rửa sạch một lần nữa, trước khi chế biển món an. Cũng theo Dwi (2008), côn trùng có thể được chế biến rất đơn giản bằng cách rang khô, chiên với dầu dừa hay trộn với lá cây sắn thuyén (=(296ewPtvàHtÀ) rồi ndu chín nêm thêm muối và một ít ớt, hoặc chỉ đơn giản là rang với mudi và hành tây.
Có hai công thức nấu ăn được mô tả một cách chỉ tiết như sau: Các loài Châu chấu (Patanga succincta L. và Valanga nigricornis Burmeister): Ngâm những con châu chấu vào nước sôi trong một phút và sau đó lau khô. Trộn và khuấy trứng, muối, tiêu, tỏi và thêm một ít nước; sau đó nhúng những con châu chấu riêng trong hỗn hợp và chiên trong dầu dừa nóng hoặc dầu cọ châu Phi. Kén sâu tí ch (Hyblaca puera Cramer): Rửa sạch kén với nước sồi.
Bắc chảo lên p.