Mở đầu thể chế kinh tế thị trường) thì nước Nga được xếp hạng 40 trong khi Trung Quốc xếp hạng thấp hơn Trong nhiều thập kỷ, các học giả và những người nhiều là 78. Tuy nhiên kết quả tăng trưởng của làm chính sách đã thừa nhận tầm quan trọng của các Trung Quốc lại vượt trội so với Nga. Chính những thể chế, bao gồm các qui định (“luật chơi”) và các điều này đã buộc các chuyên gia phải xem xét điều chủ thể (“người chơi”) đối với sự phát triển của một chỉnh đáng kể lý thuyết về thể chế kinh tế thị trường quốc gia. Các nước đạt được sự thịnh vượng ở mức để giải thích tốt hơn thực tiễn diễn ra trên thế giới, cao hơn và có bất bình đẳng ở mức thấp hơn thường đặc biệt là khi những lý thuyết trước đây về thể chế cũng đứng ở vị trí cao hơn trên các bảng xếp hạng về không giải thích được những gì diễn ra tại các nền thể chế.
Điều này đã tạo ra một nhận thức chung kinh tế lớn ở Đông Á – nơi có kết quả tăng trưởng và rằng có một mối liên hệ chặt chẽ giữa chất lượng thể giảm nghèo tốt nhất song không phải là nơi có các chế với tốc độ tăng trưởng kinh tế trong dài hạn nói thể chế tốt nhất trên thế giới. Những quan sát tương riêng và phát triển nói chung. tự khi so sánh các nền kinh tế chuyển đổi – những Tuy nhiên, sự thất bại của nhiều nước thực hiện nơi có thể coi là những phòng thí nghiệm về thể chế các cải cách thể chế theo “đồng thuận Washington” kinh tế thị trường (tức là có thể quan sát được kết (kể cả phiên bản ban đầu và phiên bản mở rộng – quả về tăng trưởng và giảm nghèo trước và sau khi augmented version) trong tương phản với “hiện các thể chế kinh tế thị trường xuất hiện) cũng cho tượng Đông Á” (thực thi chính sách công nghiệp thấy những điều tương tự như đã được nêu ở trên “bóp méo thị trường” để phát triển) trong vài thập khi so sánh “hai phòng thí nghiệm lớn nhất về niên trước và sự trỗi dậy của Trung Quốc trong giai chuyển đổi sang thể chế kinh tế thị trường” là Nga đoạn gần đây đang làm thay đổi nhận thức này về và Trung Quốc. Chính vì vậy các lý thuyết về thể chế mối quan hệ chặt chẽ giữa thể chế với tăng trưởng kinh tế thị trường nói chung và về mối quan hệ giữa và phát triển.
Cụ thể, trong gần bốn thập niên cải Nhà nước và các chủ thể phi nhà nước (non‐state cách và mở cửa, Trung Quốc đạt được tốc độ tăng actors) nói riêng đã có những điều chỉnh quan trọng trưởng trung bình ở mức xấp xỉ hai chữ số (con số để phù hợp hơn với thực tiễn diễn ra tại nhiều khu chính xác là 9,64% trong giai đoạn 1978‐2015, theo vực trên thế giới. số liệu của Ngân hàng Thế giới) và qua đó giúp hơn 700 triệu người thoát khỏi đói nghèo – một kết quả 2. Một số vấn đề lý thuyết phát triển hết sức ấn tượng. Tuy nhiên, theo nhiều Liên quan đến lý thuyết, có những định nghĩa chỉ số giám sát thường được sử dụng trên thế giới, khác nhau về thể chế kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, môi trường thể chế của Trung Quốc trong giai đoạn định nghĩa được chấp nhận rộng rãi là của trường này hầu như không thay đổi (Ngân hàng Thế giới phái kinh tế học thể chế mới (New Institutional 2017). Cũng có thể thực hiện một so sánh khác giữa Economics). Theo North (nhận được giải thưởng các nền kinh tế chuyển đổi: theo các chỉ số “Doing Nobel năm 1993 nhờ những công trình nghiên cứu Business” của Ngân hàng Thế giới năm 2016 (các về thể chế) thì thể chế bao gồm những ràng buộc phi chỉ số này thể hiện chất lượng của một số dạng của 4 Kinh tïë Chêu AÁ - Thaái Bònh Dûúng (Thaáng 10 / 2021) chính thức (điều được thừa nhận hay cấm đoán theo tranh được với các tỉnh ở gần hơn với biển, và điều phong tục, tập quán, truyền thống, đạo lý), những này diễn ra không những ở Việt Nam mà còn ở rất quy tắc chính thức (hiến pháp, luật) và hiệu lực thực nhiều nước khác như Mỹ, Úc, Trung Quốc v.v… Nói thi chúng. Các thể chế kinh tế thị trường ra đời gắn cách khác, yếu tố nhân hòa do thể chế tạo ra (giúp với các hoạt động trao đổi diễn ra trên thị trường để kết nối mọi người trong xã hội tốt hơn thông qua đảm bảo các hợp đồng giao dịch được tuân thủ việc giúp giảm thiểu và giải quyết xung đột, thúc đẩy thông qua các qui định ràng buộc các bên tham gia phối hợp, hợp tác…) tuy hết sức quan trọng song giao dịch (mua bán) và thực thi các chế tài khi có không phải là tất cả.
Nhìn từ góc độ kinh tế học tân một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình. Chính cổ điển, các yếu tố chính tạo ra tăng trưởng bao gồm vì vậy mà các nền kinh tế tự túc tự cấp không cần vốn, vốn con người, thể chế, quản trị và vị trí địa lý, đến các thể chế kinh tế thị trường. Nếu các giao dịch tức là thể chế cho dù là quan trọng xong chỉ là một trao đổi được thực hiện lặp đi lặp lại trong phạm vi yếu tố. Tầm quan trọng tương đối của thể chế đối một cộng đồng hay mạng lưới quan hệ hẹp thì các với tăng trưởng và phát triển thay đổi theo thời thể chế phi chính thức tỏ ra khá hiệu quả.
Tuy nhiên gian, gia tăng khi các yếu tố khác (thiên thời, địa khi các giao dịch trao đổi diễn ra trên diện rộng ở lợi…) suy giảm. Điều này lý giải tại sao các nước cấp độ toàn bộ nền kinh tế thì cần đến các thể chế thị thường đẩy mạnh cải cách thể chế khi các yếu tố trường chính thức, với vai trò quan trọng của Nhà khác trở nên bất lợi hơn. Hoàn thiện các thể chế kinh tế thị trường Một phát triển lý thuyết quan trọng khác giúp chính thức là đối tượng của bài viết này. giải thích thêm được “hiện tượng Trung Quốc” (tăng So với cách tiếp cận của học thuyết tân cổ điển trưởng và giảm nghèo hết sức ấn tượng trong một (neoclassical economics) truyền thống, kinh tế học giai đoạn dài trong khi các chỉ số đo lường chất thể chế mới có một số sự khác biệt cơ bản, đó là (i) lượng thể chế hầu như không thay đổi) như được nhìn nhận quyền sở hữu như là một vấn đề trọng nêu ở trên gắn với sự áp dụng rộng rãi lý thuyết trò yếu và do vậy cần chế tài; (ii) nhấn mạnh đến sự chơi trong kinh tế.
Dưới lăng kính này, thể chế bao không hoàn hảo của thông tin (thiếu hoặc bất đối hàm 3 khía cạnh quan trọng nhất là (i) luật chơi (các xứng) gây ra những vấn đề như lựa chọn ngược, rủi qui định); (ii) người chơi (các chủ thể), bao gồm Nhà ro đạo đức và vấn đề quan hệ giữa người chủ và nước, doanh nghiệp, người dân (với tư cách vừa là người đại diện (principal – agent problem); (iii) chi người lao động vừa là người tiêu dùng, tức là những phí giao dịch (transaction cost), hay còn được một người chơi trên cả thị trường lao động cũng như thị số chuyên gia gọi là chi phí thể chế (institutional trường hàng hóa và dịch vụ, bao gồm cả các dịch vụ cost) nhằm đảm bảo thực thi quyền và nghĩa vụ xã hội) và (iii) cách chơi (mức độ tuân thủ các qui trong hợp đồng giao dịch lớn hơn 0. Chính những định ‐ tức là “chơi đúng”; mức độ phối hợp với nhau vấn đề này làm giảm giao dịch thị trường xuống – tức là “chơi hiệu quả”; mức độ hợp tác với nhau – dưới qui mô tối ưu, và dưới góc độ đó, một thể chế tức là “chơi đẹp”). tốt là thể chế có thể giúp giảm chi phí giao dịch Ba khía cạnh này được xem xét trong trạng thái xuống mức tối thiểu trong khi vẫn thực thi được các động, trong đó có tính đến tương tác qua lại giữa các chế tài hạn chế được các xung đột giữa các bên tham khía cạnh này. Ví dụ, những cải cách thể chế sẽ tạo gia giao dịch thị trường.
ra được những người chơi mới cũng như tương quan mới về lực lượng giữa những người chơi, để 3. Một số thực tiễn trên thế giới trong tương lai tương quan lực lượng này lại tương Tuy thể chế là hết sức quan trọng song không tác để cải thiện hay tạo ra những luật chơi mới. Đây phải là yếu tố duy nhất quyết định đến khả năng là điểm then chốt giúp khắc phục được yếu điểm lớn cạnh tranh của một quốc gia hay giữa các địa của những cuộc thảo luận chính sách hiện nay về phương trong cùng một quốc gia. Thể chế tốt giúp hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại, đó là giảm chi phí giao dịch, song còn những chi phí khác chỉ tập trung nhấn mạnh vào khía cạnh đầu là hoàn liên quan đến thiên thời (ví dụ như các cơ hội do các thiện luật chơi (hoàn thiện luật lệ, qui định) mà bỏ yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của một quốc gia qua hai khía cạnh sau là người chơi (hay nói theo như hội nhập mang lại, hay sự thay đổi chính sách thuật ngữ chuyên môn là các chủ thể tham gia) và của các nước lớn như “xoay trục về châu Á”) hay địa cách chơi (nói theo thuật ngữ chuyên môn là hành vi lợi (gắn với lợi thế địa kinh tế, làm giảm chi phí vận của các chủ thể).
Điều này dẫn đến một hiện tượng chuyển đến các thị trường chính ở trong nước và được một số chuyên gia gọi là “cấy ghép thể chế” quốc tế). Điều này giải thích tại sao trong một quốc (institutional transplants), tức là áp dụng luật lệ, qui gia, dù có được phép áp dụng những thể chế tốt nhất định của các nước tiên tiến – được coi là có mẫu song các tỉnh ở sâu trong lục địa không thể cạnh hình tốt nhất về thể chế ‐ vào thực tiễn ở các đang Kinh tïë Chêu AÁ - Thaái Bònh Dûúng (Thaáng 10 / 2021) 5 NGHIÊN CỨU RESEARCH Asia - Pacific Economic Review phát triển. Trong nhiều trường hợp sự cấy ghép thể cầu hóa, làm chậm lại chương trình ứng phó với chế này thất bại do các nền kinh tế khác nhau có sự biến đổi khí hậu toàn cầu v.