MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay ở Việt Nam, theo khảo sát của Tổng cục Thống kê tính đến hết ngày 31/12/2016 có 477.808 Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thực tế đang hoạt động, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm khoảng 97% và đóng góp gần 40% GDP cả nƣớc. DNNVV với những đặc trƣng riêng của mình đã và đang giữ một vai trò quan trọng trong sự tăng trƣởng và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nƣớc ta. DNNVV có những đặc điểm nổi trội so với các loại hình doanh nghiệp khác nhƣ sự năng động, khả năng thích nghi, dễ thay đổi công nghệ, hiệu quả đầu tƣ tƣơng đối cao, dễ quản lý.
Với những ƣu điểm nhƣ vậy, đóng góp của loại hình DNNVV vào nền kinh tế là rất đáng kể. DNNVV đƣợc nhận định sẽ phát triển mạnh mẽ trong tƣơng lai. Chính vì vậy, họ là đối tƣợng ngày càng đƣợc các ngân hàng quan tâm đến. Ý thức đƣợc tiềm năng và tầm quan trọng của đối tƣợng DNNVV nên nhiều ngân hàng đã và đang đổi mới trong quan điểm kinh doanh theo hƣớng tập trung cho vay DNNVV.
Đặc biệt, trong bối cảnh các doanh nghiệp nhà nƣớc, các tập đoàn kinh tế lớn hoạt động kém hiệu quả nhƣ hiện nay thì hoạt động cho vay đối với DNNVV tại các ngân hàng thƣơng mại (NHTM) ngày càng đƣợc chú trọng mở rộng. Kết quả cho vay DNNVV trong 10 năm trở lại đây đã phản ánh chính sách cho vay linh hoạt, ngày càng phù hợp hơn với điều kiện của thị trƣờng và xu hƣớng cạnh tranh của các NHTM. Với mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và năng lực cạnh tranh với các NHTM khác, Ngân hàng Hợp Tác Xã Việt Nam - Chi nhánh Thanh Hóa cũng đang từng bƣớc chuyển đổi quan điểm cho vay đối với DNNVV cho phù hợp hơn với điều kiện mới của thị trƣờng. Ngân hàng Hợp Tác Xã Việt Nam- Chi nhánh Thanh Hóa đã xác định thị trƣờng cho vay các DNNVV là một lĩnh vực đầy tiềm năng phát triển và là nhóm khách hàng chiến lƣợc trong chính sách phát triển dài hạn của mình.
Tuy nhiên trong những năm qua, quản lý hoạt động cho vay đối với DNNVV tại ngân hàng chƣa đạt đƣợc chất lƣợng và hiệu quả mong muốn. 1 Trong quá trình công tác tại Ngân hàng Hợp Tác Xã Việt Nam- Chi nhánh Thanh Hóa, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Quản lý hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Hợp Tác Xã Việt Nam -Chi nhánh Thanh Hóa” cho luận văn của mình với mục tiêu hoàn thiện công tác quản lý hoạt động cho vay khách hàng DNNVV tại ngân hàng. Mục tiêu nghiên cứu. M c ti u chung Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa, đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm mục tiêu hoàn thiện công tác quản lý hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam – Chi nhánh Thanh Hóa, trong giai đoạn 2017-2020.
M c ti u c th - Về lý luận: Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề cơ bản về quản lý hoạt động cho vay đối với khách hàng DNNVV của NHTM. - Về khảo sát thực tiễn: Phân tích, làm rõ thực trạng quản lý hoạt động cho vay đối với khách hàng DNNVV tại Ngân hàng Hợp Tác Xã Việt Nam- Chi nhánh Thanh Hóa từ đó nêu ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế đó. - Về đề xuất giải pháp: Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động cho vay đối với khách hàng DNNVV tại Ngân hàng Hợp Tác Xã Việt Nam- Chi nhánh Thanh Hóa nhằm ngăn ngừa rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động của chi nhánh trong thời gian tới. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.
Đối tượng nghiên cứu: Các nội dung liên quan đến quản lý hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng Hợp Tác Xã Việt Nam (NH HTXVN)- Chi nhánh Thanh Hoá.2 Phạm vi nghiên cứu: + Về không gian: Tại Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam - Chi nhánh Thanh Hóa. 2 + Về thời gian: Số liệu và dự liệu thứ cấp đƣợc thu thập trong giai đoạn từ năm 2014-2016 và số liệu sơ cấp điều tra trong năm 2017. + Nội dung: Đề tài chỉ đề cập đến lý luận, thực tiễn và thực trạng về quản lý hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng HTXVN Chi nhánh Thanh Hóa. Phƣơng pháp nghiên cứu 4.
Phương pháp thu thập số liệu Thu thập số liệu thứ cấp: Đƣợc thu thập từ các báo cáo tổng kết, đánh giá hàng năm về hoạt động tín dụng của Ngân hàng HTXVN - Chi nhánh Thanh Hóa giai đoạn 2014-2016; tham khảo các luận văn, luận án về quản lý hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa và nghiên cứu khoa học về quản lý DN nhỏ và vừa, giáo trình, sách chuyên khảo về nghiệp vụ NHTM… Số liệu sơ cấp: Tiến hành thu thập thông tin thông qua khảo sát điều tra các cán bộ của Ngân hàng HTXVN - Chi nhánh Thanh Hóa và khách hàng doanh nghiệp bằng phiếu khảo sát. Mẫu phiếu điều tra gồm 14 câu hỏi về quản lý hoạt động cho vay khách hàng DNNVV tại NH HTXVN – Chi nhánh Thanh Hóa đƣợc gửi và lấy ý kiến của 30 cán bộ Chi nhánh và mẫu phiếu điều tra gồm 09 câu hỏi đƣợc lấy ý kiến của 60 khách hàng doanh nghiệp đang có quan hệ tín dụng với chi nhánh. Các phiếu điều tra đƣợc phát trực tiếp tại Hội sở Chi nhánh. Phương pháp phân tích thống kê và so sánh Trên cơ sở số liệu thu thập đƣợc, tác giả sử dụng các phƣơng pháp tổng hợp và phân tích số liệu để phân tổ và xử lý thông tin, phân tích đánh giá số liệu.
Với các phƣơng pháp sau: - Phƣơng pháp so sánh: So sánh biến động về số tuyệt đối và tƣơng đối của các chỉ tiêu theo thời gian, không gian. - Phƣơng pháp phân tổ thống kê; - Phƣơng pháp thống kê mô tả; - Phƣơng pháp phân tích nhân tố…. - Các phƣơng pháp khác 3 4.3 Công c xử lý số liệu Việc xử lý và tính toán các số liệu phục vụ nghiên cứu đƣợc tiến hành trên máy tính với sự hỗ trợ của phần mềm EXCEL. Kết cấu đề tài Luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chương : Một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại.
Chương : Thực trạng quản lý hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Hợp Tác Xã Việt Nam- Chi nhánh Thanh Hóa. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Hợp Tác Xã Việt Nam- Chi nhánh Thanh Hóa. 4 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.
Khái niệm và ti u chí xác định DNNVV Hiện nay, đối với hầu hết các quốc gia, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời lao động, huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tƣ phát triển, đóng góp vào ngân sách Nhà nƣớc và thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế. Cùng với đó, việc đƣa ra định nghĩa hoặc các tiêu chuẩn để phân loại DNNVV thƣờng đƣợc dựa vào hai tiêu chí chủ yếu là số lao động và tổng vốn (hoặc giá trị tài sản). Tùy thuộc vào mức độ phát triển kinh tế cũng nhƣ định hƣớng phát triển của từng quốc gia trong từng giai đoạn định lƣợng cho các tiêu chí này là khác nhau ở các quốc gia Bảng 1.1: Tiêu chí xác định DNNVV ở một số quốc gia CÁC TIÊU CH ÁP DỤNG TÊN NƢỚC Tổng vốn hoặc Số lao động (ngƣời) Doanh thu giá trị tài sản INĐÔNÊXIA <100 0,6 tỷ rupi <2 tỷ rupi PHILIPPIN <200 100 triệu pêsô XINHGAPO <100 <499 triệu $ Sinh THÁI LAN <100 < 20 triệu baht <300 trong công nghiệp XD <0,6 triệu USD <1,4 triệu USD HÀN QUỐC <50 trong TMDV <0,25 triệu USD <100 trong bán buôn <30 triệu Yên NHẬT BẢN <50 trong bán lẻ <10 triệu Yên 5 <300 trong các ngành khác <100triệu Yên <500 trong công nghiệp và ÔXTRÂYLIA DV EU <250 <2,7 triệu E 40 triệu E CANAĐA <500 <20 triệu đô MÊXICÔ <250 < 7 triệu đô MỸ <500 (Nguồn: Học viện Tài chính (2008), Quản lý tài chính DNNVV Việt Nam hiện nay, Đề tài NCKH cấp Bộ) Tại Việt Nam, kể từ tiến hành quá trình đổi mới bắt đầu vào năm 1986, các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó chủ yếu là các DNNVV đã thể hiện sức bật mạnh mẽ trong quá trình khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, phát triển và tăng trƣởng. Ngày 20-6-1998, Chính phủ đã xác định tiêu chí DNNVV theo Công văn số 681/CP- KTN, trong đó quy định DNNVV là những doanh nghiệp có vốn dƣới 5 tỷ đồng và có số lao động dƣới 200 ngƣời, không phân biệt ngành công nghiệp hoặc dịch vụ.
Ngày 23/9/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về phát triển DNNVV theo đó DNNVV đƣợc định nghĩa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật hiện hành có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 ngƣời. Tuy nhiên, theo quy định tại Nghị định này, tiêu chí xác định DNNVV còn chung chung, chƣa phản ánh đƣợc thực chất quy mô của các doanh nghiệp đối với các ngành và lĩnh vực khác nhau. Ngày 30/6/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về phát triển DNNVV thay thế Nghị định nói trên với việc đƣa ra định nghĩa mới về DNNVV. Tại Điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP quy định: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, đƣợc chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tƣơng đƣơng tổng tài sản đƣợc xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao 6 động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ƣu tiên).
Đồng thời, tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chƣơng trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí cho phù hợp”. Theo đó, các DNNVV sẽ đƣợc phân loại cụ thể nhƣ bản sau: Bảng 1.