Tổng quan nghiên cứu

Khu vực thành phố Buôn Ma Thuột và vùng phụ cận sở hữu không gian địa lý rộng lớn với diện tích khoảng 1.010 km2 và quy mô dân số đạt trên 420.000 người vào năm 2015. Nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên trên độ cao trung bình khoảng 536 m so với mực nước biển, khu vực này từng trải qua các pha hoạt động phun trào núi lửa mãnh liệt trong kỷ Neogen – Đệ Tứ, tạo nên những lớp phủ đá bazan màu mỡ với bề dày trung bình từ 218 m đến 243 m. Mặc dù địa phương duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng đạt khoảng 12,4%/năm và tỷ trọng ngành thương mại – dịch vụ đóng góp tới 42,89% cơ cấu GDP, nhưng hoạt động khai thác tài nguyên tự nhiên phục vụ du lịch sinh thái vẫn chưa tương xứng với tiềm năng thực tế. Các dạng địa hình độc đáo như miệng núi lửa cổ, hệ thống thác nước trên nền đá bazan và mạng lưới hang động núi lửa quy mô lớn hiện vẫn bị khai thác rời rạc, thiếu tính liên kết không gian và tiềm ẩn nguy cơ suy thoái môi trường.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá toàn diện tiềm năng, hiện trạng và giá trị khoa học - thẩm mỹ của các dạng tài nguyên địa hình núi lửa, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững cho thành phố Buôn Ma Thuột cùng các địa bàn phụ cận gồm huyện Cư M'gar, Buôn Đôn, Cư Jút, Cư Kuin, Krông Ana và Krông Nô. Phạm vi nghiên cứu được xác lập xuyên suốt giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2018 dựa trên các cơ sở dữ liệu viễn thám và khảo sát thực địa chuyên sâu. Đóng góp của luận văn thể hiện ở việc làm sáng tỏ cơ sở khoa học về giá trị tài nguyên địa mạo núi lửa, cung cấp luận cứ thực tiễn giúp nâng cao tỷ trọng du lịch sinh thái trong cơ cấu kinh tế địa phương, đồng thời giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn di sản địa chất và phát triển kinh tế bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết tài nguyên địa mạo của Mario Panizza (1996, 2001), khẳng định các quá trình địa mạo tạo ra những dạng địa hình mang giá trị đặc biệt; khi được con người nhận thức và đưa vào sử dụng, các thành tạo này sẽ chuyển hóa từ nguyên liệu thô thành tài sản địa mạo và tài nguyên địa mạo hoàn chỉnh. Giá trị của tài nguyên địa mạo được thẩm định thông qua 4 thành phần trụ cột: giá trị khoa học, giá trị văn hóa - lịch sử, giá trị kinh tế - xã hội và giá trị cảnh quan thẩm mỹ.

Bên cạnh đó, tác giả vận dụng khung lý thuyết về điểm đến du lịch núi lửa của Patricia Erfurt-Cooper (2010, 2012) kết hợp mô hình cấu trúc du lịch sinh thái của Phạm Trung Lương (2001) và quan điểm phát triển bền vững của Lê Huy Bá (2006). Hệ thống khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong luận văn gồm: di chỉ địa mạo (geomorphosites) – các dạng địa hình tự nhiên có sức thu hút du lịch nhờ giá trị khoa học và cảnh quan vượt trội; du lịch sinh thái (ecotourism) – loại hình du lịch có trách nhiệm dựa vào thiên nhiên, chú trọng giáo dục môi trường và hỗ trợ sinh kế cộng đồng; địa hình núi lửa nguyên sinh (miệng núi lửa, dòng dung nham bazan) và địa hình núi lửa thứ sinh (thác nước hình thành do dòng chảy xâm thực trên nền nứt nẻ bazan).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tích hợp từ mô hình số độ cao (DEM) có độ phân giải không gian 12,5 m do Cơ quan Vệ tinh Alaska (ASF) cung cấp, bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000 của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản, kết quả từ đề tài cấp Nhà nước Tây Nguyên 3 cùng Niên giám thống kê thành phố Buôn Ma Thuột giai đoạn 2010 - 2015. Timeline nghiên cứu và phân tích số liệu thực địa được tiến hành tập trung từ năm 2015 đến năm 2018.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 15 di chỉ địa mạo núi lửa tiêu biểu trên toàn bộ phạm vi 1.010 km2, bao gồm các miệng núi lửa (Cư M'gar, Cư H'lâm, Cư Êbur), cụm thác nước bazan (Đray Sáp, Đray Nur, Gia Long, Trinh Nữ) và hệ thống hang động bazan khu vực Krông Nô. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng nhằm lựa chọn những điểm đại diện xuất sắc nhất cho các pha phun trào bazan, tính toàn vẹn về hình thái và tiềm năng tiếp cận du lịch.

Phương pháp phân tích trọng tâm là đánh giá bán định lượng theo thang điểm Pralong (2005) kết hợp công nghệ Hệ thông tin địa lý (GIS) và viễn thám không gian. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm khắc phục triệt để tính chủ quan của các phương pháp định tính truyền thống, cho phép lượng hóa chính xác các thuộc tính phức tạp như độ hiếm, tính đại diện cổ địa lý, giá trị thẩm mỹ tương phản cảnh quan và mức độ rủi ro tai biến thành các chỉ số số học cụ thể từ 0 đến 1, tạo cơ sở khách quan để xếp hạng ưu tiên trong quy hoạch phát triển.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cấu trúc địa mạo khu vực nghiên cứu mang tính phân bậc rõ nét, chịu sự chi phối bởi 2 lớp phủ phun trào chính là hệ tầng Túc Trưng (chiếm hơn 60% diện tích, bề dày 218 - 243 m) và hệ tầng Xuân Lộc (bề dày 20 - 50 m). Địa hình thoải dần từ đông bắc xuống tây nam với hơn 75% diện tích có độ dốc dưới 8 độ, độ cao phổ biến từ 300 m đến 600 m, tạo nên bề mặt cao nguyên lượn sóng lý tưởng cho du lịch sinh thái nông nghiệp và dã ngoại.

Thứ hai, mạng lưới thủy văn có mật độ trung bình 0,254 km/km2 cùng modul dòng chảy 21 l/s đã tương tác mạnh mẽ với cấu tạo nứt nẻ dạng cột của đá bazan hệ tầng Túc Trưng, hình thành nên cụm thác ghềnh hùng vĩ bậc nhất Tây Nguyên trên sông Sêrêpốk. Các thác nước như Đray Nur, Đray Sáp và Gia Long sở hữu những vách đá bazan dựng đứng cao từ 15 m đến 30 m với các khối cột nứt nẻ hình lăng trụ tuyệt đẹp.

Thứ ba, kết quả đánh giá bán định lượng theo phương pháp Pralong (2005) đối với 15 di chỉ địa mạo cho thấy sự phân hóa giá trị rõ rệt. Cụm thác Đray Sáp – Đray Nur và miệng núi lửa Cư M'gar đạt tổng điểm cao nhất với giá trị khoa học đạt 0,81/1,0 điểm và giá trị thẩm mỹ đạt 0,85/1,0 điểm nhờ tính độc đáo và cảnh quan kỳ vĩ. Ngược lại, giá trị khai thác kinh tế du lịch hiện tại ở nhiều di chỉ chỉ đạt mức trung bình khoảng 0,45/1,0 điểm do hạ tầng giao thông kết nối kém và thiếu dịch vụ bổ trợ chuyên nghiệp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân tạo nên sự phong phú của tài nguyên địa hình xuất phát từ lịch sử biến động địa chất phức tạp. Sự kết hợp giữa các đợt phun trào dung nham mafic nhiệt độ cao làm nguội chậm và quá trình nâng trồi tân kiến tạo đã tạo nên những hang động dung nham có chiều dài hàng nghìn mét cùng các vòm hang kỳ vĩ tại Krông Nô. Về mặt biểu diễn dữ liệu, toàn bộ giá trị của các di chỉ địa mạo được tổng hợp trực quan qua biểu đồ mạng nhện đa trục (thể hiện tương quan giữa 4 nhóm tiêu chí: Khoa học, Thẩm mỹ, Văn hóa và Kinh tế) cùng bảng ma trận phân hạng không gian.

So với các nghiên cứu của Patricia Erfurt-Cooper (2010) tại các khu vực núi lửa ngủ yên ở Đông Á, tài nguyên địa hình núi lửa tại Buôn Ma Thuột mang tính đa dạng sinh thái cao hơn hẳn nhờ sự kết hợp liền mạch giữa cảnh quan địa mạo bazan với các di sản văn hóa phi vật thể của hơn 40 dân tộc anh em. Tuy nhiên, mức độ phân cắt sâu cục bộ từ 8 m đến 200 m/km2 và phân cắt ngang lên tới 6,4 km/km2 tại một số khu vực đứt gãy đòi hỏi các nhà quản lý phải đặc biệt lưu ý đến rủi ro sạt lở và xói mòn đất trong quá trình xây dựng hạ tầng du lịch.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, phân vùng không gian phát triển du lịch sinh thái địa mạo: Sở Du lịch tỉnh Đắk Lắk cùng Sở Xây dựng cần phối hợp thiết lập 3 cụm không gian động lực gồm cụm cảnh quan thác nước Sêrêpốk, cụm miệng núi lửa Cư M'gar – Buôn Hồ và cụm công viên hang động núi lửa Krông Nô trước năm 2024, hướng tới mục tiêu nâng thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch từ 1,5 ngày lên 2,8 ngày vào năm 2026.

Thứ hai, thiết kế sản phẩm du lịch địa chất chuyên đề: Các doanh nghiệp lữ hành cần chủ trì xây dựng 4 tuyến tour du lịch sinh thái – địa mạo chuyên biệt kết hợp diễn giải môi trường và trải nghiệm văn hóa canh tác cà phê trên đất đỏ bazan, đặt chỉ tiêu thu hút 150.000 lượt khách trải nghiệm cao cấp hàng năm vào giai đoạn 2025 - 2027.

Thứ ba, ban hành quy chế bảo tồn nghiêm ngặt di sản địa mạo: Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Đắk Nông cần ban hành văn bản pháp lý cấm hoàn toàn hoạt động khai thác đá xây dựng tại các miệng núi lửa cổ như Cư M'gar, Cư Êbur và khu vực chân thác Đray Sáp trước năm 2023, bảo đảm tính nguyên vẹn 100% của cấu trúc địa mạo phục vụ nghiên cứu và du lịch.

Thứ tư, đào tạo nguồn nhân lực bản địa và chia sẻ lợi ích cộng đồng: Ủy ban nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột cùng các huyện phụ cận cần tổ chức đào tạo kỹ năng nghiệp vụ du lịch cho ít nhất 300 lao động là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ (Ê Đê, M'nông), phấn đấu nâng thu nhập bình quân từ dịch vụ du lịch cộng đồng đạt trên 60 triệu đồng/người/năm vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và nhà quy hoạch phát triển: Cán bộ thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk có thể sử dụng bản đồ phân vùng địa mạo và kết quả đánh giá bán định lượng 15 di chỉ để xây dựng quy hoạch tổng thể không gian du lịch và hoàn thiện hồ sơ đề cử công viên địa chất.

Nhóm doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư du lịch: Các giám đốc điều hành tour và chuyên viên phát triển sản phẩm du lịch sinh thái có thể tham khảo mô hình liên kết không gian điểm đến để thiết kế các tuyến tour trekking, khám phá hang động dung nham và du lịch mạo hiểm đạt tiêu chuẩn an toàn cao.

Nhóm giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học: Các nhà khoa học thuộc chuyên ngành Quản lý tài nguyên, Địa lý học, Địa mạo và Môi trường có thể ứng dụng khung lý thuyết của Pralong và quy trình xử lý dữ liệu viễn thám DEM 12,5 m làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tương đương.

Nhóm tổ chức phi chính phủ và cộng đồng địa phương: Các tổ chức bảo tồn di sản thiên nhiên và ban quản lý các buôn làng văn hóa du lịch có thể vận dụng luận cứ của đề tài để xây dựng các dự án du lịch cộng đồng dựa vào thiên nhiên, đảm bảo sinh kế bền vững song hành với bảo tồn di sản.

Câu hỏi thường gặp

Địa hình núi lửa tại thành phố Buôn Ma Thuột có những dạng địa mạo đặc trưng nào phục vụ du lịch? Khu vực nghiên cứu nổi bật với 3 dạng địa mạo chính: các miệng núi lửa cổ hình nón cụt (Cư M'gar, Cư H'lâm), hệ thống hang động núi lửa cấu trúc ống dung nham bazan và chuỗi thác nước hùng vĩ (Đray Nur, Đray Sáp, Gia Long) có vách đá bazan dạng cột dựng đứng cao từ 15 m đến 30 m.

Phương pháp bán định lượng Pralong (2005) được ứng dụng trong luận văn như thế nào? Phương pháp Pralong lượng hóa giá trị di chỉ địa mạo thông qua 4 tiêu chí thành phần: giá trị khoa học, giá trị thẩm mỹ, giá trị văn hóa - lịch sử và giá trị kinh tế. Thang điểm chuẩn hóa từ 0 đến 1 cho phép so sánh khách quan tiềm năng giữa 15 di chỉ địa mạo tại vùng nghiên cứu.

Hoạt động nhân sinh hiện nay gây ra những tác động tiêu cực nào tới tài nguyên địa mạo? Thực trạng khai thác đá bazan trái phép làm vật liệu xây dựng tại miệng núi lửa Cư M'gar và mở rộng đất nông nghiệp thiếu quy hoạch đã gây sạt lở cục bộ, làm biến dạng hình thái nguyên sơ của các vách dung nham cổ và suy giảm tính nguyên vẹn của cảnh quan sinh thái.

Điều kiện khí hậu khu vực ảnh hưởng như thế nào đến mùa vụ du lịch sinh thái? Khí hậu mang tính chất nhiệt đới cao nguyên với mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau (độ ẩm 40 - 45%) là thời điểm lý tưởng cho các hoạt động dã ngoại ngoài trời và khám phá hang động. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm 87% lượng mưa năm tạo nên dòng chảy thác nước hùng vĩ nhưng đòi hỏi quản lý an toàn nghiêm ngặt.

Làm thế nào để phát triển du lịch địa hình núi lửa gắn với văn hóa bản địa? Mô hình du lịch sinh thái kết hợp việc khám phá cảnh quan núi lửa với trải nghiệm không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, tham quan vườn cà phê trên nền đất đỏ bazan và tìm hiểu truyền thuyết mẫu hệ của đồng bào Ê Đê tại các buôn làng phụ cận giúp gia tăng giá trị cảm nhận cho du khách.

Kết luận

  • Luận văn đã phân loại và đánh giá có hệ thống tài nguyên địa hình núi lửa trên phạm vi 1.010 km2 tại thành phố Buôn Ma Thuột và vùng phụ cận bằng công nghệ GIS hiện đại.
  • Ứng dụng thành công phương pháp bán định lượng Pralong để xếp hạng 15 di chỉ địa mạo tiêu biểu, khẳng định tiềm năng vượt trội về giá trị khoa học và thẩm mỹ của hệ thống thác bazan cùng miệng núi lửa cổ.
  • Làm rõ cấu trúc địa mạo với lớp phủ bazan hệ tầng Túc Trưng dày tới 243 m và mối quan hệ tương tác sinh thái mật thiết giữa tài nguyên tự nhiên với các hoạt động phát triển du lịch.
  • Đề xuất khung 4 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm phân vùng không gian, đa dạng hóa sản phẩm, bảo tồn di chỉ và phát triển sinh kế cộng đồng với lộ trình thực hiện cụ thể đến năm 2025.
  • Mở ra hướng nghiên cứu mới về việc liên kết chuỗi di sản địa chất cao nguyên Buôn Ma Thuột với mạng lưới Công viên Địa chất Toàn cầu Đắk Nông, tạo động lực phát triển bền vững cho toàn vùng Tây Nguyên.

Các cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu và doanh nghiệp du lịch cần sớm ứng dụng các kết quả và cơ sở dữ liệu không gian từ luận văn này vào công tác quy hoạch thực tiễn, nhằm khai phóng tiềm năng kinh tế xanh và bảo tồn nguyên vẹn di sản địa mạo quý báu của cao nguyên Buôn Ma Thuột.