CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận nghiên cứu tài nguyên địa mạo cho phát triển du lịch 1. Khái niệm chung về du lịch và DLST 1.
Khái niệm về du lịch Trong xã hội hiện đại ngày nay, du lịch càng ngày càng trở thành một nhu cầu không thể thiếu và hoạt động du lịch ngày càng phát triển mạnh mẽ, đóng góp to lớn cho nền kinh tế quốc dân.Theo Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch (Otawa – 1991): “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn đã được có tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng đến thăm” [6] Dưới góc độ địa lý du lịch, Pirogionic (1985) cho rằng “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể theo kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa”. Theo Luật Du lịch (2017), “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” [43] Như vậy, có thể thấy du lịch là một hoạt động có mục đích của con người, liên quan tới sự di chuyển và lưu trú tạm thời ngoài nơi cư trú trong một khoảng thời gian xác định nhằm tham quan, nghỉ dưỡng, khám phá các giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa tại địa điểm du lịch. Khái niệm về du lịch sinh thái Du lịch sinh thái(DLST – Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và rộng, được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau. Đây là một loại hình bắt nguồn từ du 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lịch thiên nhiên và du lịch ngoài trời.Định nghĩa đầu tiên về DLST được đưa ra năm 1987 bởi Hector Ceballos – Lascurain: “DLST là du lịch vào những khu vực tự nhiên hầu như không bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, thưởng ngoạn, trân trọng phong cảnh, muông thú hoãng dã và các biểu thị văn hóa được khám phá trong các khu vực này”.
Ở Việt Nam, đây là một lĩnh vực mới du nhập và nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Hiện nay, DLST được nghiên cứu dưới 2 quan niệm khác nhau: loại hình du lịch và quan điểm phát triển du lịch. Theo hội thảo Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển DLST ở Việt Nam (1999), “DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa có tính giáo dục môi trường và đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và PTBV với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”. Nếu hiểu theo nghĩa còn lại, “DLST là một quan điểm phát triển du lịch nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên”.
Theo đó, nếu cứ đề cao tầm quan trọng về kinh tế mà du lịch đem lại mà không chú ý tới bảo tồn tài nguyên sẽ dẫn tới một sự phát triển kém bền vững của ngành du lịch. Qua đó, DLST là một quan điểm phát triển du lịch theo hướng bền vững, kết hợp và dung hòa các thành phần du lịch thiên nhiên và văn hóa bản địa, du lịch bảo tồn, du lịch giáo dục môi trường và du lịch hỗ trợ cộng đồng.1: Mô hình cấu trúc DLST (Phạm Trung Lương, 2001) [14] 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được phát triển, quản lý theo hướng bền vững về mặt sinh thái. Du khách đượccung cấp những diễn giải cần thiết về môi trườngđể nâng cao hiểu biết, cảm nhận được giá trị thiên nhiên và văn hóa mà không gây ra những tác động tiêu cực đối với các hệ sinh thái và văn hóa bản địa. DLST nói theo một định nghĩa nào chăng nữa thì nó phải hội đủ các yếu tố cần: (1) sự quan tâm tới thiên nhiên và môi trường; (2) trách nhiệm với xã hội và cộng đồng 1.
Các đặc trưng của DLST DLST gồm 5 đặc trưng chủ yếu sau đây: - DLST phát triển trên địa bàn phong phú về tự nhiên và các yếu tố văn hóa bản địa đặc sắc. - Trong hoạt động DLST, hình thức, địa điểm và mức độ sử dụng cho các hoạt động du lịch phải được duy trì và quản lý phù hợp cho sự bền vững của hệ sinh thái, đồng thời hoạt động DLST cũng phải góp phần bảo tồn những giá trị về tự nhiên và các yếu tố văn hóa bản địa. - DLST phải gắn liền với giáo dục môi trường bằng các nguồn thông tin, truyền tải tới du khách thông qua tài liệu, hướng dẫn viên,… qua đó làm thay đổi thái độ, hành vi của du khách, cộng đồng và toàn ngành du lịch theo hướng có trách nhiệm hơn với hệ sinh thái, môi trường. - DLST phải khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia và hưởng lợi từ hoạt động du lịch.
Qua đó, tăng thêm thu thập, cải thiện đời sống của cộng đồng địa phương bằng cách cung cấp các phương thức, công cụ hay kiến thức để người dân có thể tham gia vào việc vận hành hoạt động DLST tại địa phương. - DLST cũng cung cấp các trải nghiệm du lịch với chất lượng cao, thỏa mãn mong muốn của du khách thông qua sự nâng cao hiểu biết và những kinh nghiệm du lịch độc đáo mà các loại hình du lịch khác không có được [14] 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phát triển DLST bền vững DLST bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi đó vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên và phát triển du lịch trong tương lai (Lê Huy Bá, 2006). Phát triển DLST bền vững không những đóng góp tích cực cho sự PTBV mà còn làm giảm tối thiểu các tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường, đảm bảo cho các địa phương được hưởng nguồn lợi tài nguyên do du lịch mang lại và cần chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo vệ tài nguyên và môi trường.
Ba yếu tố cần thiết cho sự PTBV của hoạt động DLST bao gồm: - Thị trường thế giới về những điểm du lịch mới và các sản phẩm DLST ngày càng gia tăng và phát triển. - Phát triển du lịch phải coi trọng việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, các hệ sinh thái và bảo vệ môi trường. - Du lịch phải trực tiếp hoặc gián tiếp mang lại nhiều lợi ích về vật chất, kinh tế và cải thiện phúc lợi xã hội cho các cộng đồng. Qua đó, phát triển DLST bền vững phải đảm bảo phát triển cân bằng 3 mục tiêu sau: nâng cao sức khỏe, trình độ văn hóa cộng đồng; tăng trưởng GDP và bảo vệ tài nguyên, môi trường.
Tài nguyên địa mạo Theo Đào Đình Bắc (2008), Địa mạo học là một bộ khoa học nghiên cứu địa hình bề mặt Trái Đất về các mặt hình thái, nguồn gốc phát sinh và lịch sử phát triển. Nó không những nghiên cứu những quy luật biến đổi hiện tại mà cả quá khứ cũng như hướng phát triển tương lai của địa hình mặt đất [4]. Các yếu tố hợp thành địa mạo có thể phân chia một cách đơn giản bao gồm (theo Panizza, 1996): tài nguyên địa mạo và tai biến địa mạo.Trong đó, tài nguyên 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com địa mạo bao gồm các nguyên liệu thô (liên quan tới quá trình địa mạo) và địa hình – bao gồm loại có lợi ích cho con người cũng như loại có thể trở nên có lợi ích tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội và khoa học công nghệ. Tai biến địa mạo có thể định nghĩa như là khả năng xảy ra các hiện tượng liên quan tới tính không ổn định của địa mạo và cường độ có thể xảy ra trong một phạm vi lãnh thổ trong một khoảng thời gian xác định [49] Cũng theo Panizza, quá trình địa mạo nếu có giá trị thì đều có thể coi là tài sản, đồng thời nếu các giá trị này được sử dụng thì chúng sẽ trở thành tài nguyên thiên nhiên: Nguyên liệu thô địa mạo (có giá trị)→ Tài sản địa mạo (được sử dụng) → Tài nguyên địa mạo Địa hình là một yếu tố rất quan trọng trong đánh giá địa mạo.
Nếu địa hình có giá trị nó có thể trở thành tài sản địa mạo và theo đó, có thể trở thành tài nguyên địa mạo nếu được sử dụng bởi con người, tùy thuộc và điều kiện kinh tế, xã hội và công nghệ. Theo Panizza, các giá trị sau có thể giúp địa hình trở thành tài nguyên địa mạo là: - Giá trị khoa học - Giá trị văn hóa - Giá trị kinh tế xã hội - Giá trị cảnh quan Xét theo quan điểm khoa học và trong lĩnh vực địa mạo, điểm quan trọng của giá trị tài nguyên có thể đánh giá theo 4 yếu tố: a) Là một mô hình phát triển địa mạo: ví dụ như karst hay trụ đất. b)Được sử dụng cho mục đích giáo dục: ví dụ như một khu vực cằn cỗi hay hiện tượng uốn khúc của sông. c)Là một minh họa cổ địa mạo, ví dụ như đồi băng tích Pleistocen hay thềm sông.
d) Địa hình có thể được xem xét là có giá trị địa mạo bởi các khía cạnh khoa học khi địa hình trở thành sự hỗ trợ sinh thái, bởi địa hình góp phần là môi trường sống chọn 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lọc của dành riêng cho các loài động, thực vật và là yếu tố không thể thiếu trong một hệ sinh thái. Mối yếu tố trên có thể mang giá trị cao hơn hay thấp hơn tùy thuộc vào sự hiếm có của nó, nghĩa là tầm quan trọng trong không gian, theo đó, các mức độ quan trọng khác nhau có thể quy cho một trong 4 loại đặc trưng đã xác định ở trên: địa phương, khu vực, siêu khu vực và toàn cầu.